BẠN CẦN BIẾT

IDevice Icon ĐA DẠNG SINH HỌC

Đa dạng sinh học

Khái niệm

Đa dạng sinh học là khái niệm dùng để chỉ tất cả các giống loài và mối liên hệ giữa chúng với môi trường tự nhiên, là tập hợp các thông tin di truyền, loài và hệ sinh thái.

Vai trò của đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng trong duy trì sự sống. Ngoài việc cung cấp nguồn nguyên liệu công nghiệp, lương thực thực phẩm, nhiều loại thuốc cho con người, chúng còn có thể làm ổn định hệ sinh thái nhờ sự tác động qua lại giữa chúng.

Gần đây, thuốc trị bệnh bạch cầu có thể được trích từ một loại hoa – Rosy Periwrinkle (dừa cạn hồng), chỉ được tìm thấy ở Madagascar, và thuốc điều trị bệnh ung thư vú từ cây Thủy tùng ở Tây Bắc Pacific. Các sản phẩm từ động vật, cá và thực vật được dùng làm thuốc, đồ trang sức, năng lượng, vật liệu xây dựng, lương thực và những vật dụng cần thiết khác .v.v…

Những vườn sinh học được thành lập với rất nhiều loài hoang dã tạo vẻ đẹp phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của con người.

Về mặt sinh thái, đa dạng sinh học còn có vai trò trong bảo vệ sức khỏe và tính toàn bộ của hệ sinh thái thế giới. Cung cấp lương thực, lọc các chất độc (qua các chu trình sinh địa hóa học), điều hòa khí hậu của trái đất, điều chỉnh cung ứng nước ngọt … Nếu mất những loài hoang dại sẽ làm mất sự cân bằng sinh thái và ảnh hưởng tới con người, chất lượng của cuộc sống.

Thay đổi tính đa dạng và nơi cư trú của đa dạng sinh học cũng ảnh hưởng tới sức khỏe và bệnh tật của con người.

Một số hiện trạng

Phần trăm các loài đã được xác định trên thế giới

Đa dạng sinh học rất phong phú trên trái đất, trong đó chim, động vật hữu nhũ, thực vật được xác định nhiều. Theo dự đoán, trái đất có khoảng 14 triệu loài. Nhưng chỉ mới xác định 1,7 triệu loài (khoảng 13%), cao nhất là côn trùng với 950.000 loài, kế là thực vật 270.000 loài. Con người chỉ mới sử dụng có hiệu quả 1.500 loài / 80.000 loài thực vật có khả năng cung cấp lương thực. Trong số các loài được phát hiện, con người chỉ mới tìm ra khoảng 5.000 loài cây chứa các hoạt chất đặc biệt có thể dùng để điều trị hoặc phòng bệnh. Với nguồn tài nguyên quý giá này đã mang lại cho thế giới khoảng 40 tỉ đô la/năm.

Sự đa dạng của các loài sinh vật trên thế giới đang bị đe doạ, với 1.130 trong số 4.000 loài động vật có vú và 1.183 trong số 10.000 loài chim có thể sẽ bị tuyệt chủng.

Gần đây, nguy cơ bị tuyệt chủng của thực vật có hoa (xương rồng, lan) và động vật có xương sống (hổ, cọp, cá tuyết …) tăng gấp 50-100 lần tỉ suất tự nhiên. Liên Hiệp Quốc cảnh báo ¼ loài động vật có vú trên thế giới – từ cọp cho đến tê giác – có thể sẽ tuyệt chủng trong vòng 30 năm tới. Với tốc độ tuyệt chủng như hiện nay, dự tính sẽ có 70 loài động vật, thực vật biến mất mỗi ngày. Trong số những loài vật bị đe dọa lớn nhất có giống tê giác đen châu Phi, cọp Sibêria và báo Amur châu Á.

Châu Á, 323 trong tổng số 2700 loài chim đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng do hoạt động của con người, đặc biệt là việc đốn gỗ và phá rừng làm đất nông nghiệp. Cảnh báo châu Á có nguy cơ hết chim được đưa ra đúng vào thời điểm loài người rầm rộ kỷ niệm ngày Môi trường thế giới, 05/6/2001. Trong số 23 nước châu Á được Tổ chức chim quốc tế điều tra, Indonesia đứng đầu về mức báo động, có số loài chim thuộc diện nguy cấp chiếm khoảng 1/3 trong số 323 loài kể trên. Kế đến là Trung Quốc với 78 loài, Ấn Độ với 73 loài và Philippines là 69. Con số này đã tăng lên nhanh chóng trong vòng 20 năm qua. Cho tới năm 1998, mới chỉ có 51 loài bị đe dọa tuyệt chủng.

Nguyên nhân làm suy giảm đa dạng sinh học

  • Nơi cư trú giảm
  • Phá rừng. Trước khi nền nông nghiệp bắt đầu phát triển, bề mặt hành tinh được phủ khoảng 35% rừng. Hiện nay, chỉ còn khoảng 25% trong đó 12% là rừng tự nhiên. Theo ước lượng, hàng năm mất khoảng 60.000 km2 rừng nhiệt đới. Đốn gỗ là mối đe dọa lớn nhất, tác động tới 50% tổng số các loài có nguy cơ tuyệt chủng, tiếp đó là hoạt động canh tác, ảnh hưởng tới 30% và hoạt động du canh 20%. Theo ông Szabo, Giám đốc thông tin của Tổ chức chim Quốc tế, một số loài chim chỉ sống tại các vùng sinh thái nhất định, nếu những khu rừng này bị chặt phá hay đốt cháy, các loài chim rất dễ bị tổn thương.
  • Mở rộng nơi cư trú của các loài ngoại lai.
  • 50% đất đai trên thế giới đã bị thoái hoá bởi các hoạt động của con người (sản xuất công nghiệp, hầm mỏ, nông nghiệp).
  • 50% các con sông bị cạn kiệt hoặc ô nhiễm nghiêm trọng.
  • Thay đổi mục đích sử dụng đất. Ở Illinois (Hoa Kỳ), thảo nguyên và rừng là chiếm ưu thế. Nhưng hiện nay chỉ còn ít hơn 1% thảo nguyên và ít hơn 20% rừng nguyên sinh được giữ lại và có 356 thực vật và 144 động vật được xem là bị đe dọa hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng.
  • Thu hẹp nhanh chóng diện tích rừng nhiệt đới, rừng ngập nước ngọt và ven biển, các ám tiêu san hô … là những nơi có sự tập trung nhiều loài nhất. Rạn san hô vĩ đại ngoài khơi bờ biển Úc, chiếc barrier tự nhiên lớn nhất thế giới, đang bị đe dọa tính mạng bởi các dòng bùn đất chứa nhiều phân hóa học, cuốn trôi ra từ các vùng đầm lầy và rừng nhiệt đới bị phá hủy dọc theo bờ biển Queensland, đông bắc Australia. Số cá nược (loài thú thuộc bộ lợn biển) trong vùng đã giảm đi từ 50 đến 80% trong 10 năm qua, loài rùa quý hiếm caretta, hoạt động sinh sản của chúng đã sụt đi 80% từ thập kỷ 70.
  • Nhiều đô thị, ngoại ô và nhà máy sản xuất được hình thành.
  • Các dịch vụ giải trí được mở rộng.

Do mất nơi cư trú và nhiều nguyên nhân khác, đa dạng sinh học bị suy giảm như cọp Ấn Độ chỉ còn khoảng 5-10% so với ban đầu, nơi cư trú của tê giác đen chỉ còn 1-3% và Puma châu Phi gần như tuyệt chủng, còn khoảng 30-50 loài hoang dã.

  • Dân số tăng, làm tăng các nhu cầu của con người như nguồn thức ăn, đất định cư, năng lượng, mức sống …
  • Quá trình sản xuất, sinh hoạt thải ra nhiều chất thải làm thay đổi môi trường sống tự nhiên của các sinh vật.

Việt Nam

Nước ta với khí hậu nhiệt đới, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái rừng với trên 12.000 loài thực vật (có những loài quý như đinh, lim, sến, cẩm lai, giáng hương, lát hoa …). Khoảng 2.300 loài thực vật đang được khai thác nhằm những mục đích khác nhau.

 


 

Về động vật sống trong rừng, nước ta có khoảng 1.000 loài chim, 300 loài thú, hơn 300 loài bò sát, ếch nhái … phân bố rộng rãi; 28 loài động vật quý mang tính đặc biệt của vùng nhiệt đới như voi, tê giác, bò rừng, bò tót, bò xám, hổ, báo, hươu sao, hươu xạ, nai cà tông, vược, vộc cá đầu xám, vộc mũi hếch, sếu trụi cổ, cò quắm cánh xanh, rắn, trăn, rùa biển …

Số loài được biết ở Việt Nam khá phong phú đa dạng, nhiều nhất là cá, kế là chim và động vật có vú.

Đa dạng sinh học ở Việt Nam đang có nguy cơ bị suy giảm. Hiện có 500 loài thực vật đang trong tình trạng có khả năng hiếm và 366 các loài động vật khác nhau có nguy cơ bị tuyệt chủng. Một số nơi thịt động vật hoang dã được bán rộng rãi và công khai (ví dụ như một nhà hàng tại Thị trấn Gia Luân, thịt động vật hoang dã được bán cho khách du lịch với giá như: Sơn dương 3$/kg, Thịt khỉ: 2$/kg; Óc khỉ: 3$/kg .v.v…).

Bảo vệ các loài hoang dã

Thành lập những hiệp ước và luật lệ

Tổ chức Liên hiệp quốc về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên đã phát hành quyển sách "Tài liệu đỏ”.

Một số hiệp ước thế giới và những hiệp định để bảo tồn các loài hoang dã đã được đặt ra nhưng còn hạn chế ở một số nước.

Năm 1987, bảng danh sách thực vật và động vật có nguy cơ, và đe dọa đã được bảo vệ dưới một đạo luật bao gồm 928 loài, trong đó có 385 loài được tìm thấy trong nước Mỹ và những nước khác.

Ở Việt Nam, nhiều văn bản quan trọng đã được ban hành như Luật Bảo vệ Môi trường, văn bản bảo vệ động vật hoang dã (359/TTg ngày 29/5/1996 do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký) về phương pháp khẩn cấp để bảo vệ và phát triển động vật hoang dã.

Thành lập khu bảo tồn loài thú hoang dã

Năm 1903, Tổng thống Theodore Roosevelt đã thiết lập khu bảo tồn động vật hoang dã Liên bang đầu tiên trong nước Mỹ-ở đảo Pelican trên bờ biển phía Đông Florida để bảo vệ chim bồ nông xám.

Năm 1987, hệ thống khu bảo tồn động vật hoang dã bao gồm 437 khu, được cơ quan động vật hoang dã và thủy sản quản lý, khoảng 88% diện tích là ở Alaska.

Ở Việt Nam, quy hoạch hơn 1 triệu ha để làm khu bảo tồn sự đa dạng sinh học với 120 khu rừng đặc dụng (có tràm chim Tam Nông ở Đồng Tháp Mười, rừng Cúc Phương, Hoàng Liên Sơn, Bạch Mã…). Thực tế:

  • Ta vẫn chưa theo dõi được diễn biến của các loài quý hiếm.
  • Chưa kiểm soát các hoạt động săn bắn và đánh cá.
  • Hoạt động quản lý lưu vực chưa chặt chẽ.
  • Nhiều môi trường sinh sản và sinh sống của sinh vật vẫn tiếp tục bị tàn phá.

Tổ chức MAB của UNESCO đã công nhận Vườn Quốc gia Nam Cát tiên, Việt Nam là khu dự trữ sinh quyển quốc tế, khu thứ 411 của thế giới, thứ 2 của Việt Nam (sau Cần Giờ, TP.HCM). Khu sinh quyển Cát Tiên có tổng diện tích 73.878 ha nằm trên ba tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước, cách TP.HCM 150 km; có khoảng 1.800 loài thực vật thuộc 151 họ, 73 bộ. Đây là khu rừng đặc trưng cho hệ thực vật miền Đông Nam Bộ với nhiều loài cây gỗ họ sao, dầu, tử vi, đậu, đặc biệt có nhiều loài có giá trị cao cả về kinh tế và sinh học như gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương .v.v… Nơi đây còn có 77 loài thú, 326 loài chim, 133 loài cá nước ngọt, 40 loài bò sát, 14 loài lưỡng cư và 457 loài côn trùng, trong đó 51 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam như tê giác Java (7-8 cá thể), cá sấu Xiêm, gà so cổ hung, bò rừng, voi, hổ .v.v…

Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và chương trình phát triển của LHQ đồng tài trợ cho dự án "Xây dựng các khu bảo tồn nhằm xây dựng nguồn TNTN Việt Nam trên cơ sở ứng dụng quan điểm sinh thái cảnh quan" với tổng số vốn đầu tư 8.504.102$, trong đó 438.000$ vốn trong nước. Dự án được triển khai tại vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Cạn) và vườn Quốc gia Yóok Đôn (Đắk lắk).

Ngân hàng gen, sở thú, vườn thực vật, ao ca

Sở thú, vườn thực vật (Botanic garden), ao cá … chính là những kho dự trữ tốt cho các loài, nhất là ở những vùng nhiệt đới.


IDevice Icon Bộ sưu tập ảnh
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
Show  Image
 
IDevice Icon XEM VIDEO-BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC VIỆT NAM

HÃY CHIA SẺ QUAN ĐIỂM CỦA BẠN VỀ ĐOẠN PHIM!