BẠN CẦN BIẾT
Ô nhiễm môi trường do các chất phóng xạ.
Sự
phát triển của nền khoa học kỹ thuật đã đem đến cho nhân loại những
thành tựu trong mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội như công nghiệp, nông
nghiệp, y học,.. nhưng bên cạnh đó sự phát triển này có tác động không
nhỏ đến môi trường sống của các sinh vật trên Trái Đất. Trong đó, nguy
hiểm nhất là công nghệ sản xuất vũ khí hạt nhân đã làm ô nhiễm môi
trường sống ở mức độ nguy hiểm nhất.
Ô
nhiễm phóng xạ là loại ô nhiễm khá nguy hiểm đến sức khỏe con người,
gây ra nhiều căn bênh quái ác là nguyên nhân gây nên các dị tật bẩm sinh
của con người và các căn bệnh khó trị khác.
Ô nhiễm phóng xạ.
Được hiểu là việc chất phóng xạ nằm trên các bề mặt hay trong chất rắn, chất lỏng hay chất khí và thậm chí kể cả trong cơ thể con người. Sự ô nhiễm phóng xạ cũng được sử dụng ít chính thức để chỉ một số lượng, cụ thể là các hoạt động phóng xạ trên một bề mặt (hoặc trên một đơn vị diện tích bề mặt). Phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân không bền vững tự phát phân rã, phát ra các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác. Ô nhiễm phóng xạ là sự phát tán của các tia có năng lượng cao và các chất phóng xạ vào đất, nước, không khí, sinh vật.
Ô nhiễm môi trường do các chất phóng xạ gây nên hậu quả nghiêm trọng.
Các tia phóng xạ
- Tia α: là hạt nhân cử nguyên tử Heli thoát ra từ một nhân nguyên tử nặng trong quá trình biến đổi hạt nhân. Do kích thước tia lớn, các hạt khí này không thể thấm sâu vào vật chất nhưng chúng lại có khả năng tạo ra một lượng lớn các sản phẩm ion hóa chỉ cần sau một thời gian thâm nhập rất ngắn (30.000 cặp ion trong 1cm mà tia đi qua). Do đó, các hạt α biểu hiện rất ít khả năng độc hại ngoài cơ thể nhưng chúng lại rất nguy hiểm qua đường tiêu hóa.
- Tia β: đây là chùm điện tử phát sinh từ hạt nhân nguyên tử, có kèm theo hiện tượng hạt nhân trung hòa biến thành hạt mang điện hay ngược lại. Các hạt β có khả năng thâm nhập lớn hơn các hạt α nhưng chúng lại sản ra ít ion hơn nhiều theo đơn vị chiều dài đường đi (150 cặp ion qua 1cm không khí). Các tia này có thể biến thành các tia α hay tia X khi các hạt β chậm lại lúc đi gần một hạt nhân của chất bị đâm xuyên (bức xạ hãm).
Các tia phóng xạ gây nguy hại cho con người.
- Tia γ: đây là chùm hạt proton phóng ra từ hạt nhân nguyên tử, các tia γ có khả năng ion hóa kém nhưng khả năng đâm xuyên lại rất mạnh so với các tia α và β. Phải dùng những tấm chì dày hàng centimet mới làm giảm được rõ rệt số tia đi qua. Không bao giờ tia γ bị hấp thụ hoàn toàn hoặc bị chặn hẳn lại.
- Tia nơtron: nơtron là những hạt không mang điện của hạt nhân nguyên tử được giải phóng trong quá trình phá vỡ hạt nhân nguyên tử nặng uran. Nó chỉ bị giữ lại khi va chạm với các hạt nhân khác, do đó nó có khả năng đâm xuyên rất lớn.
- Tia X: sự đổi chỗ của các điện tử từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác phát ra tia X. Giống như tia γ, tia X cũng là bức xạ điện tử nhưng có bước sóng dài hơn. Các tính chất của tia X cũng tương tự tia γ.
Chất thải phóng xạ.
Chất thải có chứa các chất phóng xạ thường là sản phẩm của các nhà máy điện hạt nhân và các ứng dụng khác của phân hạch hạt nhân hoặc công nghệ hạt nhân, chẳng hạn như nghiên cứu và y học. Chất thải phóng xạ nguy hiểm cho hầu hết các hình thức của sống và môi trường, và được quy định bởi các cơ quan chính phủ để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.
Các chất thải phóng xạ chủ yếu từ các nhà máy hạt nhân và các hóa chất độc hại.
Trước khi được thải ra môi trường các chất thải được lưu trữ lại để làm giảm dộ phóng xạ của nó. Thời gian lưu trữ phụ thuộc vào loại chất thải. Chất thải ở mức độ thấp với các mức phóng xạ thấp trên mỗi khối lượng hoặc khối lượng (chẳng hạn như một số chất thải y tế hoặc chất thải phóng xạ công nghiệp) có thể cần phải được lưu trữ cho các giờ, vài ngày trong khi chỉ cao cấp chất thải (như nhiên liệu hạt nhân đã qua hoặc sản phẩm phụ của hạt nhân tái chế) phải được lưu trữ cho một năm hoặc hơn.
Các phương pháp xử lý chất thải hạt nhân
Mặc dù, các nhà máy điện hạt nhân đang là lựa chon khả thi để giải quyết vấn đề khủng hoảng năng lượng nhưng cũng không thể phủ nhận một trong những nhược điểm lớn của nó là quá trình xử lý chất thải hạt nhân.
Nhằm ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu gia tăng và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về năng lượng, các quốc gia phát triển và đang phát triển đều theo đuổi những dự án nhà máy điện hạt nhân . Tuy nhiên làm sao để xử lý chất thải hạt nhân cũng như cơ chế tài chính cho xử lý chất thải phóng xạ… đã sản sinh trong quá trình vận hành lò phản ứng hạt nhân đang làm đau đầu các nhà khoa học và quản lý.
Quy trình xử lý chất thải hạt nhân truyền thống tích trữ trong hầm, kho chứa của nhà máy càng ngày càng lớn và trở thành gánh nặng của các quốc gia. Đối mặt với tình trạng này, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra nhiều giải pháp khác nhau song vẫn chưa đem lại hiệu quả thực sự, điều này cũng gây áp lực không nhỏ cho các nhà quản lý trước bối cảnh thúc bách về năng lượng và quá trình triển khai kế hoạch phát triển công nghệ hạt nhân.
Cất giữ trong đá nhân tạo
Cách này sẽ ngăn chất thải phóng xạ và làm nhiễm độc đất, đá và nước xung quanh.Các nhà khoa học đã phát triển loại đá nhân tạo (synroc) từ những năm 1970 nhằm lưu giữ những chất thải hạt nhân có mức phóng xạ lớn. Các loại đá được thiết kế khác nhau phụ thuộc vào loại chất thải riêng biệt, dựa trên công thức cho phản ứng nước - ánh sáng cũng như hàm lượng chất plutonium.Một giải pháp tương tự là sử dụng vật liệu gốm nano trong bảo quản và lưu giữ chất thải phóng xạ. Các nhà khoa học Australia dùng sơn với sợi gốm nano được làm từ oxit của titan để sơn lên bề mặt các bể hay thùng lớn bằng thép, được dùng để chứa chất thải phát sinh trong quá trình khai thác các chất phóng xạ và nước thải trong quá trình làm mát lò phản ứng. Vật liệu gốm nano có ưu điểm là rất bền và có thời gian tồn tại lâu hơn các ion chất phóng xạ, có khả năng bẫy các ion dương của chất phóng xạ và giữ chặt chúng mãi trong đó. Chỉ cần quét một lớp sơn mỏng cỡ nano mét (một phần tỷ mét) sẽ tăng độ an toàn lên rất nhiều.
Nguồn Internet
Mặc dù, các nhà máy điện hạt nhân đang là lựa chon khả thi để giải quyết vấn đề khủng hoảng năng lượng nhưng cũng không thể phủ nhận một trong những nhược điểm lớn của nó là quá trình xử lý chất thải hạt nhân.
Nhằm ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu gia tăng và đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn về năng lượng, các quốc gia phát triển và đang phát triển đều theo đuổi những dự án nhà máy điện hạt nhân . Tuy nhiên làm sao để xử lý chất thải hạt nhân cũng như cơ chế tài chính cho xử lý chất thải phóng xạ… đã sản sinh trong quá trình vận hành lò phản ứng hạt nhân đang làm đau đầu các nhà khoa học và quản lý.
Quy trình xử lý chất thải hạt nhân truyền thống tích trữ trong hầm, kho chứa của nhà máy càng ngày càng lớn và trở thành gánh nặng của các quốc gia. Đối mặt với tình trạng này, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra nhiều giải pháp khác nhau song vẫn chưa đem lại hiệu quả thực sự, điều này cũng gây áp lực không nhỏ cho các nhà quản lý trước bối cảnh thúc bách về năng lượng và quá trình triển khai kế hoạch phát triển công nghệ hạt nhân.
Cất giữ trong đá nhân tạo
Cách này sẽ ngăn chất thải phóng xạ và làm nhiễm độc đất, đá và nước xung quanh.Các nhà khoa học đã phát triển loại đá nhân tạo (synroc) từ những năm 1970 nhằm lưu giữ những chất thải hạt nhân có mức phóng xạ lớn. Các loại đá được thiết kế khác nhau phụ thuộc vào loại chất thải riêng biệt, dựa trên công thức cho phản ứng nước - ánh sáng cũng như hàm lượng chất plutonium.Một giải pháp tương tự là sử dụng vật liệu gốm nano trong bảo quản và lưu giữ chất thải phóng xạ. Các nhà khoa học Australia dùng sơn với sợi gốm nano được làm từ oxit của titan để sơn lên bề mặt các bể hay thùng lớn bằng thép, được dùng để chứa chất thải phát sinh trong quá trình khai thác các chất phóng xạ và nước thải trong quá trình làm mát lò phản ứng. Vật liệu gốm nano có ưu điểm là rất bền và có thời gian tồn tại lâu hơn các ion chất phóng xạ, có khả năng bẫy các ion dương của chất phóng xạ và giữ chặt chúng mãi trong đó. Chỉ cần quét một lớp sơn mỏng cỡ nano mét (một phần tỷ mét) sẽ tăng độ an toàn lên rất nhiều.
Nguồn Internet
Nguồn gốc của các chất phóng xạ.
Các chất thải phóng xạ sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau. Phần lớn chất thải có nguồn gốc từ chu trình nhiên liệu hạt nhân và tái chế vũ khí hạt nhân. Những nguồn khác có thể là do chất thải y học và công nghiệp, hoặc các loại vật liệu phóng xạ tự nhiên (NORM) được tích tụ do việc chế biến hoặc tiêu thụ than, dầu, khí đốt và một vài loại khoáng sản.
- Các loại chất phóng xạ trong tự nhiên: các chất chứa phóng xạ tự nhiên được gọi là NORM. Sau khi được xử lý bởi con người khiến cho tính phóng xạ cúa chúng lộ ra hoặc tích tụ (như quá trình khai thác mỏ đưa than lên bề mặt hoặc đốt để tạo ra tro cô đặc), chúng sẽ trở thành chất phóng xạ tự nhiên được tăng cường bởi công nghệ. Rất nhiều loại chất thải này là vật liệu phóng xạ hạt anpha sinh từ chuỗi phân rã của urani và thori.
- Chất thải tàn dư: các hoạt động lịch sử liên quan đến công nghiệp radi, khai thác urani, và các chương trình quân sự, vì vậy có rất nhiều khu vực có chứa hoặc là bị ô nhiễm phóng xạ. Các hóa chất độc hại được sử dụng trong chiến tranh còn sót lại cũng chứa các chất phóng xạ nguy hiểm.
Các chất phóng xạ gây nên những thiệt hại vô cùng nặng nề cho sức khỏe con người.
- Chất thải phóng xạ trong y tế: thường chứa các tác nhân giải phóng hạt beta và tia gamma. Chúng có thể được chia thành hai nhóm chính. Trong y học hạt nhân chẩn đoán, một lượng lớn tác nhân giải phóng gamma có thời gian sống ngắn như techneti-99m được sử dụng. Đa số chúng có thể được xử lý bằng cách để yên cho chúng phân rã trong một khoảng thời gian ngắn trước khi xử lý như chất thải thông thường. Các loại chất phóng xạ này dùng trong việc điều trị các căn bệnh có mức độ nguy hiểm cao.
- Trong công nghiệp: các chất thải có nguồn gốc từ công nghiệp có thể chứa các tác nhân phóng xạ như anpha, beta, nơtron hoặc gamma. Tác nhân phóng xạ gamma được sử dụng trong chụp X quang trong khi đó thì nguồn giải phóng nơtron được sử dụng trong nhiều ứng dụng, chẳng hạn như trong quá trình logging giếng dầu.
- Than đá: có chứa một lượng nhỏ phóng xạ urani, bari, thori và kali, nhưng, trong trường hợp của than tinh khiết, nồng độ trung bình của những nguyên tố này nhỏ hơn nhiều so với trong vỏ Trái Đất. Các địa tầng xung quanh, nếu là đá phiến sét hoặc bột kết, thường chứa phóng xạ nhiều hơn một chút so với trung bình và điều này cũng có thể thấy được trong thành phần tro của các loại than 'bẩn'.
- Dầu khí: Cặn dư từ ngành công nghiệp dầu khí thường chứa radi và các sản phẩm phân rã của nó. Lượng sulfat từ giếng dầu thường giàu radi, trong khi đó nước, dầu và khí đốt từ giếng thường chứa radon. Radon phân rã sinh ra đồng vị phóng xạ rắn hình thành lớp phủ bên trong đường ống. Trong nhà máy chế biến dầu, khu vực nhà máy nơi propan được chế biến thường là một trong những khu vực bị ô nhiễm, bởi vì radon có điểm sôi tương tự như propan.
- Phóng xạ nhân tạo do thử nghiệm vũ khí hạt nhân: các vụ nổ vũ khí hạt nhân đều gây ra các sản phẩm phóng xạ. Các sản phẩm phóng xạ này được phát tán trong khí quyển và sẽ được các loại đất đá hấp thụ ở những mức độ khác nhau. Các chất phóng xạ này có chu kỳ bán rã dài, ngắn khác nhau và chúng tồn tại ở môi trường địa phương xung quanh các vụ nổ ở hàm lượng khác so với ở những nơi xa các vụ nổ đó. Từ các vụ nổ hạt nhân, các hạt phóng xạ hình thành được tung vào khí quyển; chúng bị mưa, gió kéo theo và phát tán trong khắp khí quyển rồi rơi xuống mặt đất. Các chất phóng xạ này cũng rơi xuống mặt biển và được phát tán trong nước biển từ đại dương này sang đại dương khác qua hoạt động của đại dương. Như vậy, các quá trình phát tán này chính là tác nhân của quá trình gây nhiễm xạ toàn cầu.
Các chất phóng xạ trong môi trường sẽ theo nhiều con đường xâm nhập vào cơ thể con người, chúng sẽ phá hoại các kết cấu phân tử lớn thậm chí trực tiếp phá hủy các tế bào và mô gây hại cho sức khỏe con người. Tia phóng xạ có thể gây ra nhiều bệnh nguy hiểm vì vậy phải hạn chế sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe con người.
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân. Trong đó, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam
đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Thông qua các phương
tiện truyền thông, chúng ta có thể dễ dàng thấy được các hình ảnh, cũng
như các bài báo phản ánh về thực trạng môi trường hiện nay. Mặc dù các
ban ngành, đoàn thể ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn
nước,... nhưng có vẻ là chưa đủ để cải thiện tình trạng ô nhiễm ngày
càng trở nên trầm trọng hơn.

Thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đang rất nghiêm trọng. Photo by Internet.
Tình trạng quy hoạch các khu đô thị chưa gắn liền với vấn đề xử lý chất thải, xử lý nước thải,...
vẫn còn tồn đọng nên tại các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu đô
thị,...ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động. Theo ước tính, trong
tổng số 183 khu công nghiệp trong cả nước thì có trên 60% khu công
nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Tại các đô thị, chỉ
có khoảng 60% - 70% chất thải rắn được thu gom, cơ sở hạ tầng thoát nước
và xử lý nước thải, chất thải nên chưa thể đáp ứng được các yêu cầu về
bảo vệ môi trường. Hầu hết lượng nước thải bị nhiễm dầu mỡ,
hóa chất tẩy rửa, hóa phẩm nhuộm,... chưa được xử lý đều đổ thẳng ra
các sông, hồ tự nhiên. Một ví dụ đã từng được dư luận quan tâm thì
trường hợp sông Thị Vải bị ô nhiễm bởi hóa chất thải ra từ nhà máy của
công ty bột ngọt Vedan suốt 14 năm liền.
Các nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
Ý thức của người dân
Đầu tiên, đó chính là sự thiếu ý thức nghiêm trọng và thờ ơ của người
dân. Nhiều người cho rằng những việc mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để
làm hại môi trường. Một số người lại cho rằng việc bảo vệ môi trường là
trách nhiệm của nhà nước, của các cấp chính quyền...trong khi số khác
lại nghĩ rằng việc môi trường đã bị ô nhiễm thì có làm gì cũng "chẳng ăn thua",
và ô nhiễm môi trường cũng không ảnh hưởng đến mình nhiều. Và chính
những suy nghĩ này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục cũng như tư
duy bảo vệ môi trường của các thế hệ trẻ về sau.

Người dân thờ ơ và thiếu ý thức trong việc bảo vệ môi trường, khó làm gương cho trẻ em. Photo by Internet.
Thật vậy, người lớn không làm gương để giáo dục trẻ em. Theo quan sát,
tại các trường học, chúng tôi nhiều lần chứng kiến phụ huynh đưa con đi
học đến cổng trường dừng lại ăn sáng và sau khi ăn xong, thay vì bỏ hộp
xôi, hộp bánh vào thùng rác thì họ lại vứt ngay tại chỗ. Mặc dù, các
trường học có treo rất nhiều tấm biến, khẩu hiệu cấm xả rác bừa bãi
nhưng phụ huynh vẫn thản nhiên xả rác nơi công cộng thì rất khó hình
thành ý thức tốt cho thế hệ trẻ.
Việc phá hoại môi trường của một người chỉ ảnh hưởng nhỏ nhưng nếu gọp
nhiều người lại thì rất lớn. Một tờ giấy, vỏ hộp sữa, túi ni-lông,...
tuy nhỏ nhưng tích tụ lại lâu ngày sẽ gây ô nhiễm, mất mỹ quan, rác thải
đọng lại trong các lô-cốt gây ra tình trạng cống thoát nước bị nghẹt mỗi khi mưa lớn hay thủy triều lên.
Các doanh nghiệp thiếu trách nhiệm, quan liêu, thiếu chặt chẽ
Nguyên nhân thứ hai gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách
nhiệm của các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận,
không ít doanh nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần gây ô
nhiễm môi trường đáng kể.
Mặt khác, hệ thống xử lý nước thải tại một số khu công nghiệp chưa hoạt
động hiệu quả, nước thải sinh hoạt bị ô nhiễm được thải liên tục ra
sông, hồ gây nhiễm độc nguồn nước tự nhiên.
Bên cạnh đó, chính sự quan liêu, thiếu chặt chẽ trong công tác quản lý
bảo vệ môi trường của nhà nước cũng đang tiếp tay cho hành vi phá hoại
môi trường.
Ngoài ra, lượng xe cộ lưu thông ngày càng nhiều ở nước ta cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô nhiễm bầu không khí.
Những hạn chế, bất cập trong bảo vệ môi trường
Theo thống kê của Bộ Tư Pháp, hiện nay có khoảng 300 văn bản pháp luật
về bảo vệ môi trường để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức, các
hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật, quy trình sử dụng nguyên
liệu trong sản xuất,... Tuy nhiên, hệ thống các văn bản này vẫn còn chưa
hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao, tình
trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là
khá phổ biến, từ đó làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá
nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế... trong việc bảo vệ môi trường.

Một bức ảnh nhỏ nhưng cho thấy tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ô nhiễm đến mức nào. Photo by Internet.
Quyền hạn pháp lý của các tổ chức bảo vệ môi trường, nhất là của lực
lượng Cảnh sát môi trường chưa thực sự đủ mạnh, nên đã hạn chế hiệu quả
hoạt động nắm tình hình, phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm về bảo
vệ môi trường. Các cơ sở pháp lý, chế tài xử phạt đối với các loại hành
vi gây ô nhiễm môi trường về các loại tội phạm còn hạn chế chưa đủ
mạnh. Cụ thể, có rất ít trường hợp gây ô nhiễm môi trường bị xử lý hình
sự, còn các biện pháp xử lý khác như: buộc phải di dời ra khỏi khu vực ô
nhiễm, đóng cửa và đình chỉ hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm môi trường
cũng không được áp dụng nhiều, hoặc có áp dụng nhưng các cơ quan chức
năng thiếu kiên quyết nên doanh nghiệp "lỳ đòn" cũng không có hiệu quả.
Các cấp chính quyền chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đối với
công tác bảo vệ môi trường, dẫn đến buông lỏng quản lý, thiếu trách
nhiệm trong việc kiểm tra, giám sát về môi trường. Ngoài ra, công tác
tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường trong xã hội còn hạn chế.
Giải pháp khắc phục
Người dân nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường, vứt rác đúng nơi quy
định, không xả rác bừa bãi. Giáo dục, nâng cao nhận thức cho các bé về
bảo vệ môi trường. Ngoài ra, nên hạn chế sử dụng các hóa chất tẩy rửa
khi xử lý nghẹt cống thoát nước, vì như thế sẽ vô tình
đưa vào môi trường một chất thải nguy hại mới, đồng thời cũng làm nguồn
nước bị nhiễm độc. Thay vào đó, hãy áp dụng cách xử lý ống thoát nước bị tắc bằng vi sinh.

Bảo vệ môi trường là bảo vệ chính chúng ta. Photo by Internet.
Nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường,
trong đó có những chế tài xử phạt phải thực sự mạnh để đủ sức răn đe các
đối tượng vi phạm. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống quản lý
môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo các tiêu chuẩn
quốc tế. Tổ chức giám sát chặc chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp
hơn.
Tại các khu du lịch, khu đông dân cư, tuyến đường lớn,... nên bổ sung thêm nhiều thùng rác và các nhà vệ sinh công cộng.
Tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, giám sát về môi trường.
Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ phụ trách
công tác môi trường và trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại để
phục vụ có hiệu quả cho các lực lượng này.
Cuối cùng, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục về môi
trường trong toàn xã hội tạo ra sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý
thức chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường.
Tóm lại, tình trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam tuy nghiêm trọng
nhưng vẫn còn có thể cứu vãn nếu mỗi người dân biết góp sức của mình,
chung tay bảo vệ môi trường. Hãy hô vang khẩu hiệu "Vì môi trường xanh - sạch - đẹp" và cũng là vì cuộc sống của chính chúng ta cũng như các thế hệ sau.
HÃY CHIA SẺ QUAN ĐIỂM CỦA BẠN VỀ ĐOẠN PHIM!