1. Vệ sinh hệ thần kinh
1.
Vệ sinh hệ thần kinh
1.1.
Tổ chức chế độ sinh hoạt hợp lí là cơ sở vệ sinh hệ thần kinh
a/ Vệ
sinh hệ thần kinh
Hệ thần
kinh giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ thể. Nó là trung tâm điều khiển
hoạt động của các cơ và hệ cơ quan trong cơ thể, giúp chúng hoạt động thống nhất,
nhịp nhàng.
Hệ thần
kinh còn điều khiển sự tương tác cơ thể và môi trường bên ngoài, làm cho cơ thể
nhanh chóng thích nghi với điều kiện luôn thay đổi của môi trường.
Đặc
điểm của hệ thần kinh trẻ nhỏ là chưa hoàn thiện về cấu tạo và chức năng nên hoạt
đọng trí tuệ và thể chất diễn ra kémHệ thần kinh giữ vai trò đặt biệt quan trọng
trong cơ thể.
Đặc điểm hệ thần kinh trẻ nhỏ: Chưa hoàng thiện về cấu tạo và chức năng nên hoạt động trí tuệ và thể chất diễn ra kém. Quá trình hưng phấn phát sinh và lan tỏa nhanh chóng, chú ý của trẻ không bền. Khi hoạt động và nghĩ ngơi không hợp lí sẽ làm rối loạn chức năng thần kinh dẫn đến tình trạng mệt mỏi ở trẻ nhỏ.
Từ đó có thể thấy rằng: Vệ sinh hệ thần
kinh là giữ cho hệ thần kinh luôn ở trạng thái hưng phấn thích hợp.
Nguyên
nhân gây ra trạng thái hưng phấn không thích hợp của hệ thần kinh là:
+ Thứ nhất, trẻ bị bệnh tật. Khi trẻ
mắc bệnh hoặc thường xuyên mắc bệnh sẽ có những thay đổi trong hoạt động hệ thần
kinh với các biểu hiện thường gặp là giảm khả năng hoạt động của hệ thần kinh,
thay đổi trạng thái hưng phấn… các dấu hiệu này biểu hiện khác nhau phụ thuộc
vào mức độ mắc bệnh, đặc điểm lứa tuổi…
+ Thứ hai, không đáp ứng đầy đủ nhu
cầu sinh lí của cơ thể trẻ, như nhu cầu sinh lí, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu xã
hội… trong đó nhu cầu sinh lí là nhu cầu cơ bản và đặc biệt quan trọng.
+ Thứ ba, không đáp ứng đủ nhu cầu vận
động của cơ thể trẻ. Vận động là nhu cầu tự nhiên của cơ thể, đặc biệt là đối với
cơ thể đang phát triển như trẻ mầm non. Ngoài ra sự thiếu hụt vận động còn do
không đảm bảo các điều kiện cho trẻ vận động tích cực. Việc loại trừ kích thích
bên ngoài hoặc không đủ kích thích cho trẻ hoạt động sẽ làm giảm trạng thái hoạt
động của vỏ não dẫn đến ức chế. Vì vậy khả năng làm việc của vỏ não sẽ giảm xúc
nếu trong thời gian dài, trẻ chỉ được hoạt động trong điều kiện không đổi, tiếp
nhận những tác động như nhau, vốn tri thức, kĩ năng …
+ Thứ tư, không đáp ứng đủ nhu cầu
giao tiếp cho trẻ. Giao tiếp là nhu cầu đặc biệt và xuất hiện sớm ở trẻ. Ở trẻ
xuất hiện 2 dạng giao tiếp: giao tiếp với người lớn và giao tiếp với bạn.
+ Thứ năm, trẻ mệt mỏi. Mệt mỏi là kết
quả của sự quá căng thẳng của cơ thể khi phải tập trung vào hoạt động nào đó,
tiến hành trong thời gian quá lâu và thời gian không đảm bảo… Khi mệt mỏi, khả
năng tiến hành các hoạt động phức tạp của trẻ bị giảm sút, trẻ không thể điều
khiển được những vận động thô, các hành động của trẻ trở nên đơn điệu, nhàm
chán.
Sự mệt
mỏi xuất hiện vào những thời điểm khác nhau, ở những mức độ khác nhau, phụ thuộc
vào nhiều yếu tố: trạnh thái sức khỏe, đặc điểm hệ thần kinh, thời gian hoạt động
…
Như vậy
tạo điều kiện cho hệ thần kinh trẻ hoạt động bình thường đề phòng trạng thái
hưng phấn không thích hợp của hệ thần kinh, cần giúp trẻ hoạt động nghĩ ngơi tốt.
b/ Chế độ sinh hoạt hợp lí
Chế độ
sinh hoạt hợp lí là sự luân phiên rõ ràng và hợp lí các dạng hoạt động và nghỉ
ngơi của trẻ trong một ngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ, vệ sinh
cá nhân, hoạt động và nghĩ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng thái cân bằng
của hệ thần kinh, giúp cơ thể phát triển tốt.
Chế độ sinh hoạt cần đảm bảo những yêu cầu
sau:
- Thể
hiện rõ các hoạt động trong ngày của trẻ, sắp xếp theo trình tự nhất định.
- Đảm
bảo thời gian cần thiết cho mỗi hoạt động trong ngày phù hợp với nhu cầu sinh
lí và khả năng hoạt động của các lứa tuổi.
- Đảm
bảo sự cân bằng giữa hoạt động và nghỉ ngơi.
- Đảm
bảo trình tự lặp đi lặp lại, tránh xáo chộn, tạo thói quen.
- Tổ
chức một cách linh hoạt phù hợp với mọi trẻ.
à Chế độ sinh hoạt tổ chức tốt sẽ tạo điều kiện cho
các cơ quan thực hiện chức năng của mình, tránh được tình trạng mệt mỏi dẫn đến
rối loạn chức năng hệ thần kinh.
1.2.
Tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non
a/ Tổ chức giấc ngủ cho trẻ mầm non
* Bản chất giấc ngủ
Ngủ là nhu cầu sinh lí của cơ thể, việc
tổ chức giấc ngủ tốt cho trẻ là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn đối với việc
bảo vệ sức khỏe cho trẻ.
Khi
ngủ các cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể (hô hấp, tuần hoàn…) làm việc ít tích
cực hơn và trung tâm vận động hầu như bị ức chế. Đảm bảo cho cơ thể có thể khôi
phục lại khả năng đã bị tiêu hao.
* Cơ chế của giấc ngủ được thành lập nhu sau: Khi làm việc kéo dài và căng thẳng, tế bào thần kinh sẽ mệt mỏi và suy kiệt, để chống lại sự mệt mỏi và suy nhược của tế bào thần kinh, trong vỏ não phát ra quá trình ức chế, lan tỏa khắp vỏ não, xuống đến dưới vỏ não, giấc ngủ bắt đầu.
Hay nói cách khác: giất ngủ là hiện tượng
lan tỏa của quá trình ức chế, lan rộng trong toàn bộ vỏ não và dưới vỏ não.
* Các nhân tố gây ra giấc ngủ
- Hoạt
động thiên biến vạn hóa của các vùng phân tích quan trên vỏ não làm giảm khả
năng làm việc trên các vùng đó, làm cho các vùng đó có xu hướng chuyển sang ức
chế.
- Sự
loại trừ kích thích bên trong và bên ngoài, làm giảm năng lực của tế bào thần
kinh, chuyển nó sang trạng thái ức chế.
- Là
kết quả của quá trình phản xạ có điều kiện dựa trên tác nhân là thời gian và chế
độ sống của con người.
Để hồi
phục khả năng làm việc của trẻ cần tổ chức cho trẻ nghỉ ngơi hợp lí để đảm bảo
giấc ngủ tốt cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ ngủ đủ thời gian, ngủ ngon và sâu.
* Nhu cầu ngủ của trẻ mầm non
Nhu cầu ngủ của trẻ phụ
thuộc vào lứa tuổi, trạng thái sức khỏe và đặc điểm hoạt động thần kinh của
trẻ.
- Đối
với trẻ có sức khỏe và hệ thần kinh phát triển bình thường, nhu cầu ngủ của trẻ
trong một ngày theo độ tuổi.
|
Lứa tuổi
(tháng) |
Số lần ngủ (ngày) |
Thời gian |
||
|
Ngày |
Đêm |
Cả ngày |
||
|
3 đến 6 |
4 |
7g30 |
9g30 |
17g00 |
|
6 đến 12 |
3 |
6g |
10g00 |
16g00 |
|
12 đến 18 |
2 |
4g 30 |
10g30 |
15g00 |
|
18 đến 36 |
1 |
3g00 |
10g30 |
13g30 |
|
36 đến 72 |
1 |
2g00 |
10g00 |
12g00 |
- Đối
với những trẻ có sức khỏe và hệ thần kinh yếu, cần tạo điều kiện cho trẻ ngủ
nhiều hơn những trẻ khác từ 1-1,5 giờ. Bằng cách cho trẻ ngủ sớm hơn và đánh thức
dậy muộn hơn so với trẻ bình thường.
* Phương pháp tổ chức giấc ngủ cho mầm non
Mục đích: Tạo điều kiện cho trẻ ngủ tốt, nghĩa là giúp trẻ ngủ nhanh, sâu và đủ thời gian cần thiết.
Các bước tiến hành:
-
Bước 1: Vệ
sinh trước khi ngủ: Cần vệ sinh phòng ngủ và vệ sinh cá nhân
trẻ
+ Vệ sinh phòng ngủ: Chế độ không khí: thông
thoáng phòng phù hợp theo mùa; Chế độ ánh sáng: Hạn chế ánh sáng trong phòng ngủ
của trẻ; Các trang thiết bị trong phòng: giường ngủ phải có kích thước phù hợp
với lứa tuổi, gối mỏng, có độ cứng vừa phải.
+ Vệ sinh cá nhân cho trẻ: tạo ra cảm
giác thoải mái dễ chịu cho trẻ ngủ, hình thành phản xạ “chuẩn bị ngủ”, làm cho
giấc ngủ của trẻ diễn ra nhanh hơn, trẻ ngủ sâu hơn.
-
Bước 2: Vệ sinh trong khi ngủ
+ Giáo viên phải có mặt trong phòng ngủ để
theo dõi quá trình trẻ ngủ: Tư thế, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, ánh sáng, tiếng
ồn và xử lí các trường hợp cần thiết xảy ra trong giấc ngủ của trẻ. Cho trẻ ngủ
đúng thời gian nhất định trong ngày.
+ Cho trẻ nghe hát ru hoặc nhạc nhẹ
làm trẻ ngủ nhanh hơn. Không để trẻ nằm ở 1 tư thế lâu, cần thay đổi vài lần
trong 1 giấc ngủ, không được kéo chăn trùm kín đầu, không được nằm sấp, úp mặt
vào gối, không nằm cả người lên gối.
+ Theo dõi không khí trong phòng, khi
thấy ngột ngạt cần thông khí 1 phần. Cần giữ yên tĩnh cho trẻ ngủ, tránh cười
nói to, gây ra tiếng động mạnh làm trẻ thức giấc.
-
Bước 3: Vệ sinh sau khi ngủ
Chỉ cho trẻ thức dậy khi trẻ đã đủ giấc. Do vậy,
cho trẻ thức khi phần lớn số trẻ trong lớp đã tự thức giấc. Muốn cho mọi trẻ đều
được ngủ đủ, cần cho những trẻ yếu hơn được dậy muộn hơn. Sau đó tổ chức cho trẻ
đi vệ sinh cá nhân một cách trật tự, nề nếp, cho trẻ vận động nhẹ nhàng và ăn bữa
phụ.
b/ Tổ chức bữa ăn cho trẻ mầm non
Cần tổ chức chế độ ăn hợp lí cho trẻ: đảm bảo khẩu phần ăn hợp lí, chế biến thực phẩm phù hợp với khả năng tiêu hóa của từng lứa tuổi, ở trường mầm non chế biến thức ăn và vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng.
* Yêu cầu sau khi tổ chức bữa ăn cho trẻ:
- Thứ nhất, cần cho trẻ ăn vào những
thời điểm nhất đinh trong ngày. Không nhận đủ lượng thức ăn của bữa sáng trẻ sẽ
thấy đói, đến trưa, trẻ ăn nhiều hơn, ăn quá mức cho phép và rồi từ chối bữa ăn
phụ. Việc phá hủy chế độ ăn làm cho trẻ thường xuyên không nhận được đủ năng lượng
thức ăn cần thiết sẽ kìm hãm sự phát triển thể chất và khả năng hoạt động của
chúng bị giảm sút.
- Thứ hai, cho trẻ ăn theo nhu cầu cơ thể. Giáo viên cần biết được nhu cầu ăn về lượng cũng như khẩu phần ăn của từng trẻ trong lớp. Trẻ ăn một cách tự nguyện theo sự mong muốn của trẻ.
- Thứ ba, cần tạo ra bầu không khí
thoải mái dể chịu trong phòng ăn. Giáo viên không được sốt ruột khi trẻ ăn chậm,
không được cấm nói chuyện trong suốt bữa ăn. Mọi sự can thiệp của giáo viên
trong lúc trẻ đang ăn đều làm giảm cảm giác ngon miệng và có ảnh hưởng xấu đến
sự hấp thụ thức ăn ở trẻ.
c/ Tổ chức hoạt động học tập cho trẻ mầm
non
Trong
các hoạt động của trẻ mần non, hoạt động học tập thường có ảnh hưởng lớn đến sự
căng thẳng chí tuệ và thể chất.
Học tập
chưa phải là hoạt động chủ đạo ở trường mầm non vì trẻ chưa được chuẩn bị đầy đủ
về hình thái và chức năng các cơ quan để tiếp nhận những tác động của dạy học một
cách có hiệu quả.
Để hoạt động học tập của trẻ đạt hiệu quả cao, tránh được trạng thái mệt mỏi của cơ thể, cần tổ chức chế độ học tập hợp lí và tổ chức dạy học cho trẻ ở môi trường tối ưu.
*
Tổ chức chế độ học cho trẻ ở trường mầm non
-
Mức độ học của trẻ mầm non
Để hoạt
động học của trẻ có hiệu quả, cần làm cho nội dung học phải tương ứng với mức độ
phát triển của các chức năng sinh lý trong cơ thể. Nghĩa là học phải nhằm đạt
được hai mục đích: bảo vệ cơ thể và phát triển cơ thể. Do vậy, cần phải xác định
nội dung, phương pháp dạy học ở mức độ phù hợp với trẻ, giúp chúng có thể giải quyết
nhiệm vụ học tập khi có sự nỗ lực và cố gắng nhất định.
-
Thời gian học của trẻ mầm non
Khi chế độ học không phù hợp với trẻ sẽ ảnh
hưởng đến chức năng tự điều khiển, khi đó hoạt động học tập của trẻ vẫn tiếp tục,
nhưng không thể diễn ra ở mức độ tối ưu được. Biểu hiện của sự tự điều khiển là sự dao động của các chức
năng ngoại biên, được thể hiện rõ trong từng giai đoạn hoạt động của con người.
Quá trình đó chia làm ba giai đoạn:
+ Giai đoạn I: Thích ứng. Khi tiến hành bất kì hoạt động nào, cơ thể
cần có thời gian nhất định để đạt tới khả năng làm việc tối ưu. Đây là thời
gian cần thiết để cơ thể thích ứng với hoạt động. Trong thời gian này, ở cơ thể
diễn ra sự thay đổi chức năng hoạt động của các cơ quan và hệ cơ quan để hình
thành phương thức hoạt động mới. Để phương thức làm việc phù hợp được hình
thành nhanh, cơ thể phải sử dụng các thể chế thích ứng khác nhau.
+ Giai đoạn II: Hưng phấn tối ưu. Giai đoạn hưng phấn tối ưu
được bắt đầu từ thời điểm sau khi đã lựa chọn được phương thức thích nghi với một
hoạt động nào đó đến khi xuất hiện những dấu hiệu mệt mỏi đầu tiên.
+ Giai đoạn III: Mệt mỏi. Biểu hiện ở khả năng lao động giảm sút theo
ba xu hướng khác nhau: Giảm về số lượng (giảm về hiệu xuất hay tốc độ làm việc);
Giảm về chất lượng (giảm về độ chính xác hay tăng số lỗi); Phá hủy sự tự điều
khiển (mất sự điều khiển khi tiến hành các thao tác riêng biệt hoặc thay đổi trạng
thái sinh lí trong cơ thể); Căn cứ vào các dấu hiệu mệt mỏi, có thể chia giai đoạn mệt mỏi ra làm hai giai đoạn
nhỏ: bắt đầu mệt mỏi và mệt mỏi hoàn toàn.
Qua quan sát những thay đổi về
trạng thái chức năng sinh lí của cơ thể trẻ trên giờ học, các nhà khoa học đã xác định được thời gian tối thiểu
dành cho các giai đoạn trên trong giờ học đối với trẻ 5-6 tuổi như sau:
+ Giai đoạn thích ứng: giờ thứ nhất là gần 6 phút; giờ thứ hai gần 5 phút. Trong đó, gần 80% các trường hợp kéo dài từ 2 đến 7 phút.
+ Giai đoạn hưng phấn tối ưu: giờ thứ nhất từ 17 đến 18 phút; giờ thứ hai từ 16 đến
17 phút.
+ Giai đoạn bắt đầu mệt mỏi: kéo
dài từ 5 đến 7 phút.
-
Thời điểm học của trẻ mầm non
Khả năng làm việc của cơ thể
thay đổi theo thời gian trong ngày, trong tuần, tháng, năm. Sự thay đổi này có liên quan đến hoạt động theo chu kì các chức năng sinh
lí trong cơ thể gọi là nhịp điệu sinh học của cơ thể. Cơ thể con người hoạt động theo những nhịp điệu phổ
biến: ngày, cận ngày, tuần, tháng, mùa, năm ...
Có hai cao điểm tăng cường khả
năng làm việc của con người trong ngày tương ứng với thời gian tăng cường các
chức năng sinh lí trong cơ thể:
+ Cao điểm thứ nhất là: 8 giờ-
12 giờ. Từ 12 giờ-14 giờ khả năng làm
việc của cơ thể giảm đi đột ngột.
+ Cao điểm thứ hai là: từ 14 giờ-18
giờ.
* Tổ chức môi trường học cho
trẻ mầm non
Hoạt động học tập của trẻ sẽ đạt
hiệu qua cao, nếu được tiến hành trong môi
trường tốt: có không khí trong lành, có đủ ánh sáng, có bàn ghế và các đồ dùng học tập
phù hợp với trẻ.
-
Về không khí:
Thành phần không khí trong phòng học có ảnh hưởng tới khả năng hoạt động
của trẻ: sự tăng nhiệt độ, độ ẩm trong phòng, các vi sinh vật, các chất thải của cơ thể, thay đổi thành phần ion đều có thể làm cho trẻ nhanh
chóng mệt mỏi. Cảm giác nhiệt của con người phụ thuộc vào tác động
tổng hợp của nhiều yếu tố khí hậu: nhiệt độ, độ ẩm, chuyển động của không khí... cơ thể trẻ nhạy cảm đối với các thành phần trên. Do vậy, cần có các biện pháp vệ sinh
phòng học:
+ Vệ sinh nền nhà thường xuyên, vệ sinh các cửa, trang bị trong phòng.
+ Thông thoáng khí một phần: về mùa đông, không khí được lưu thông qua khe cửa kết hợp thông
thoáng khí qua khe cửa trên; mùa hè, không khí được lưu thông qua
khe cửa sổ.
+ Thông thoáng khí toàn phần: thường được tiến hành khi phòng trống, nên kết hợp thông thoáng khí tự nhiên và nhân tạo để
đẩy nhanh không khí trong phòng ra ngoài.
- Về
ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sức
khỏe và khả năng làm việc của cơ thể. Đồng thời, việc học có liên quan tới sự căng thẳng của mắt nên cần đảm bảo độ sáng tối
thiểu trong phòng học.
- Về tư thế ngồi: Tư thế ngồi của trẻ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của trẻ. Một tư thế đúng, lưng thẳng nhưng thoải mái, đầu hơi nghiêng về phía trước thường dẫn đến sự căng các cơ cổ và lưng.
+ Kích thước bàn ghế: để giúp
trẻ ngồi đúng tư thế cần lựa chọn bàn ghế thích hợp với chiều cao cơ thể trẻ. Độ cao của bàn so với ghế phải có tỉ lệ thích hợp, giúp cho trẻ ngồi được thoải mái, không phải cuối gập lưng hoặc căng lưng ra và có thể
tỳ tay lên mặt bàn.
+ Cự li ngồi: để giúp trẻ có thể tựa lưng vào ghế khi ngồi và ở trạng thái đó có thể
nhìn rõ các vật trên bàn, cũng như có thể thực hiện các công việc khác nhau, cần phải đảm bảo cự li ngồi thích hợp.
-
Về đồ dùng trực quan:
+ Cần
trưng bày sao cho tất cả trẻ đều nhìn thấy rõ, không nên trưng bày đồ dùng ở gần
cửa sổ.
+ Cần chú ý dạy trẻ sử dụng bút cho đúng. Biết cầm bút bẳng tay phải, cầm bằng ngón tay cái và ngón giữa, còn ngón tay trỏ đặt lên trên.
+ Khi
vẽ, dạy trẻ nên đặt cả khùy tay lên bàn, các ngón tay phải cầm bút di chuyển,
tay trái giữ giấy.
+
Trong các giờ lắp ghép, dạy trẻ cách sử dụng kéo: dùng ngón tay cái và ngón giữa
để mở rộng tay kéo. Kéo dùng cho trẻ phải nhẹ, kích thước phù hợp, đầu kéo
không nhọn …
d/ Tổ chức dạo chơi ngoài trời cho trẻ mầm
non
Dạo
chơi ngoài trời có ảnh hưởng lớn đến hệ thần kinh của trẻ. Làm cho trẻ ăn ngon,
ngủ ngon, cơ thể thoải mái.
- Cho trẻ dạo chơi ngoài trời ít nhất ngày 2 lần,
vào buổi sáng và buổi chiều.
- Cho trẻ mặc quần áo phù hợp với thời tiết bên
ngoài.
- Trong quá trình tổ chức cho trẻ dạo chơi ngoài trời, thì trẻ có điều kiện tiếp xúc và làm quen với môi trường xung quanh, học cách vượt qua khó khăn, ngoài ra nó còn giúp trẻ luyện tập hệ tuần hoàn, hô hấp.
Chú
ý: Những trẻ yếu không nên cho tham gia vào quá trình dạo chơi này. Thời tiết ấm
cho trẻ mặc quần áo nhẹ nhàng, đội mũ nan, mũ vải, đi giày dép vừa chân, có quai
sau.
Thời gian cho trẻ dạo chơi ngoài trời tăng dần từ 5
– 10 phút tăng lên đến 20 phút.
đ/ Tổ chức hoạt động độc lập cho trẻ mầm
non
- Chuẩn bị cho hoạt động. Để giúp trẻ hoạt động tích cực, khi tổ chức hoạt động cần đáp ứng nhu cầu sinh lí của cơ thể về ăn, ngủ, vệ sinh cá nhân, tạo cho trẻ có trạng thái tâm lí tốt trước khi bước vào hoạt động. Có đủ không gian cho trẻ hoạt động, chuẩn bị đủ đồ chơi, tài liệu, đồ dùng, bố trí thuận lợi cho trẻ dễ sử dụng, trẻ cần trang bị kiến thức, kĩ năng đầy đủ.
-
Tổ chức hoạt động cho trẻ. Cần chú ý, đảm bảo cho trẻ có trạng thái tâm lí tốt trong suốt quá trình
hoạt động, khi thấy trẻ có những hành vi không đúng cần tìm hiểu nguyên nhân và
giải quyết nguyên nhân. Cần tạo tính tích cực cho trẻ, cần hình thành và phát
triển quan hệ giao tiếp của trẻ với bạn và người lớn.
1.3.
Đánh giá chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mầm non
a/ Mục đích đánh giá
-
Mục đích đánh giá, để xác định
thực trạng chăm sóc và giáo dục trẻ. Có thể điều chỉnh việc tổ chức các hoạt động
sinh hoạt của trẻ phù hợp vời lứa tuổi, đảm bảo yêu cầu về vệ sinh hệ thần
kinh.
b/ Nội dung đánh giá
- Tính liên tục của quá trình sinh hoạt hằng ngày.
- Thời
gian thực hiện các hoạt động trong ngày.
- Các
điều kiện tiến hành chế độ sinh hoạt của trẻ.
- Hoạt
động của giáo viên.
- Hoạt
động của trẻ.
- Sự
phối hợp giáo dục giữa giáo viên và gia đình.
c/ Phương pháp đánh giá
- Theo
dõi việc thực hiện chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ ở trường mầm non. Quan sát
và ghi chép một cách khách quan.
- Để
theo dõi quá trình đánh giá và phân tích kết quả có thể lập biểu đồ hoặc
đồ thị về thực trạng tổ chức chế độ sinh hoạt cho trẻ ở trường mầm non.
- Dựa
trên biểu đồ hoặc đồ thị và những kết quả thu được qua quan sát, có thể tiến
hành phân tích kết quả. Việc phân tích kết quả bao gồm các bước: phân tích từng
nội dung đã khảo sát, nhận xét các mặt mạnh, yếu đã được giáo viên thực hiện, xác
định nguyên nhân. Trên cơ sở các kết quả đã phân tích cần đề xuất các biện pháp
giải quyết có hiệu quả.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Câu 1: Tại sao nói chế độ sinh hoạt
hợp lý là cơ sở để bảo vệ hệ thần kinh cho trẻ mầm non?
Câu 2: Bản chất của giấc ngủ là gì?
Nêu phương pháp tổ chức giấc ngủ cho trẻ mầm non.
Xem đoạn video sau và nêu những suy nghĩ của mình về đoạn phim đã xem.