2. Vệ sinh nước
2.
Vệ sinh nước
2.1. Vai trò của nước đối với đời sống
Nước
rất cần thiết cho hoạt động sống của con người. Nó đáp ứng các nhu cầu sinh lí
của cơ thể, vì thành phần chủ yếu của cơ thể là nước.
- Nước tham gia vào quá
trình trao đổi chất.
- Nước tham gia vào quá
trình điều hòa nhiệt.
-
Nước là nguồn duy nhất cung cấp các chất quý hiếm cho cơ thể.
- Nước rất cần cho sinh hoạt hàng ngày, là yếu tố đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường… phục vụ cho sản xuất.
2. 2. Tiêu chuẩn vệ
sinh của nước
a/
Tiêu chuẩn lí học của nước
Nước
phải đảm bảo các yêu cầu: Trong, không màu, không mùi, không vị.
b/
Tiêu chuẩn hóa học của nước
- Amoniac cho phép trong
nước là 2-3 mg/lit.
- Nitoric cho phép trong
nước là 0,1 mg/l.
-
Nitorat cho phép trong nước là 3-5mg/lit.
-
Sắt cho phép trong nước là 0,3 – 0,5
mg/lit.
-
Muối cloruanatri cho phép trong nước là 60-70mg/lit.
-
Độ cứng của nước: Độ cứng của nước thấp: Tỉ lệ sâu răng tăng; Độ cứng của nước tăng: Cản trở quá
trình hấp thụ I ốt, tỉ lệ bướu cổ tăng.
c/
Tiêu chuẩn sinh
vật
Mỗi
ngày cơ thể cần 30g iốt để tuyến giáp hoạt động bình thường. Nếu thiếu iốt sinh ra bướu cổ. Fluo có nhiều trong nước ngầm, nếu Fluo
dưới 0,5 mg/l răng bị sâu, nếu trên
0,5 mg/l hoen ố răng, thích hợp 0,7mg/l.
d/
Chỉ tiêu vi sinh vật
Vi
sinh vật trong nước gây bệnh đường tiêu hóa, nước có vi sinh vật gây bệnh là nước
không dùng được.
e/
Chỉ tiêu độc chất
Nước
có chất độc gây bệnh là nước không dùng được.
2.3.
Các phương pháp cải tạo nguồn nước
a/ Các nguồn nước trong tự nhiên
Các nguồn nước trong tự nhiên hình thành do biển và đại dương dưới tác dụng của tia nắng mặt trời bốc hơi thành đám mây khi gặp lạnh ngưng tụ thành mưa rơi xuống mặt đất thành nước bề mặt, một phần ngấm xuống đất thành nước ngầm, vậy trong tự nhiên thành 3 nguồn nước:
- Nước mưa là nguồn nước chính vì số lượng không nhất
định (phụ thuộc theo mùa) và chất lượng không đảm bảo (trong khi rơi
xuống có lẫn bụi và các vi sinh vật).
- Nước bề mặt số lượng rất nhiều nhưng không đảm bảo vệ
sinh vì đã hòa tan các chất hữu cơ, bụi bẩn và chứa vi sinh vật gây
bệnh. Nước bề mặt bao gồm: sông
ngòi, ao, hồ, suối,…phải xử lí trước khi sử dụng.
- Nước ngầm rất nhiều và sạch nhưng có nhiều sắt nên
trước khi sử dụng cần khử sắt.
b/
Xử lí các nguồn nước
Mục đích cho nước đục trở nên trong và cải tạo tính
chất hóa học của nước.
* Các cách xử lí cụ thể:
- Làm trong nước bề mặt. Nước bề mặt đục
vì có nhiều cặn ở trạng thái keo và mang
điện tích âm (SiO2). Các điện tích này đều cùng dấu nên đẩy nhau, không lắng xuống đáy được. Khi cho phèn
(Al2(SO2)3) vào nước, các phân tử
Al+++ mang điện tích dương và có hóa trị cao, nên dễ trung hòa các hạt cặn,
đường kính các cặn lớn dần lên và sẽ tự lắng xuống.
- Khử sắt ở nước ngầm. Sắt trong nước ngầm
thường ở dạng: sunfunat sắt (FeSO4) và bicacbônat sắt (Fe(HCO3)2). Cả hai dạng
này, sắt đều hóa trị 2, ở
dạng hòa tan làm cho nước vẫn đục. Muốn khử sắt cần làm cho sắt hóa trị 2 thành sắt hóa trị 3 làm kết tủa sắt. Có
thể sử dụng các cách sau:
+ Phương pháp làm thoáng nước. Cho nước tiếp
xúc với oxi của không khí nhờ việc
tạo dàn mưa nhân tạo, nước ngầm được đưa lên giàn mưa, lỗ sàng cao 2,5m – 3m. Nước
từ giàn rơi xuống như mưa tăng diện tích tiếp xúc nước với không khí. Các phản ứng hóa học xảy ra tạo thành
khí CO2 và Fe2O3 kết tủa.
+ Phương pháp dùng bể lọc. Xây bể bằng gạch,
có đặt vòi nước ở thành sát đáy bể.
Trong bể, rải các lớp cát, sỏi, đá theo thứ tự từ bể lên trên: sỏi, cát vàng, đá cuội, sỏi. Cho nước giếng chảy lên
trên mặt bể. Trước khi chảy ra khỏi bể, phải
đi qua các lớp nên các cặn bị giữ lại và nước trở nên trong hơn. Có thể sử dụng 2 loại bể lắng:
Bể lắng ngang.
Cho nước chảy theo bề ngang, các cặn lắng từ trên xuống.
Bể lắng đứng.
Cho nước chuyển động từ dưới lên, các cặn lắng từ trên xuống.
Sau
khi lắng nhiều cặn li ti được giữ lại ở khe các lớp lọc.
+ Diệt
trùng có thể sử dụng 2 phương pháp:
Phương pháp lí học: đun sôi, dùng
tia tử ngoại, sóng siêu âm.
Phương pháp hóa học:
dùng clo và hợp chất chứa clo như: cloramin, nước Javen,
cloruacanxi. Ôxy được giải phóng tác dụng lên vi khuẩn.clo còn tác dụng trực tiếp lên tế bào vi khuẩn, kết
hợp với các chất trong nguyên sinh chất
của tế bào làm cho vi khuẩn chết.
2.4. Cung cấp nước cho trường mầm non
Trung bình mỗi trẻ cần 75 – 100 lít nước/ ngày để vệ sinh cá nhân, ăn uống, vệ sinh quần áo,…ở nhóm trẻ cần nước nóng, lạnh để tắm rửa, vệ sinh. Nước uống cần chuẩn bị đủ cho trẻ dùng suốt ngày. Nước đun sôi để nguội, chứa trong bình thủy, nhựa hoặc tráng men có nắp đậỵ. Mỗi trẻ cần có cốc riêng, được úp vào khay khô ráo sau khi sử dụng. Được tiến hành qua trung tâm cấp nước của thành phố, thị xã, thị trấn, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp,… Khi không có nguồn nước ở gần cần xây dựng nguồn nước và xử lí. Có thể dùng giếng khoan và làm bể lọc hoặc đào giếng.
CÂU HỎI ÔN TẬP
Cung cấp nước cho trường mầm non?