Video hướng dẫn thực hành Mô thực vật


Thực Hành Mô thực vật
2.1. Chuẩn bị
a. Dụng cụ
Kính hiển vi, kính lúp, lam và lamen, dĩa đồng hồ, Cốc 100 ml, lưỡi lam, kim mũi mác, lưỡi lam mới, ống nhỏ giọt, giấy thấm
b. Hóa chất
Nước cất, glycerin, nước javel, Carmin alune’, phèn chua, phenol, thuốc nhuộm kép son phèn - lục iod, acid acetic
c. Mẫu vật
- Thân bí rợ non (Cucurbita maxima L.); thân măng tây;
- Lá huệ ta (Polianthes tuberosa L.)
- Rễ cây
- Cà rốt (Daucus carota L.).
2.2. Nội dung thực hành
2.2.1. Chuẩn bị dung dịch: son phèn lục iod
- Carmin alune’ 1 gr + nước cất 100 ml + 2 g phèn chua
- Đun nhẹ dung dịch trên khoảng vài phút (không để sôi), hạ lửa thật nhỏ 1 h. Để nguội hôm sau đun tiếp 30 phút - 1h. Để nguội rồi lọc.
- Bột iod xanh pha nước và lọc qua giấy lọc. Cho vào dung dịch trên vài giọt.
- Nếu muốn bảo quản dung dịch nhuộm được lâu cho thêm 1-2 giọt phenol.
Son phèn nhuộm hồng các chất celulose còn lục iod nhuộm xanh các chất mộc tố.
2.2.2. Thực hiện tiêu bản
- Nhỏ 5-10 giọt javel vào đĩa đồng hồ; cắt củ carot thành từng khoanh làm thớt.
- Chẻ dọc thân bí rợ, sau đó cắt thân bí rợ, lá huệ ta thành những lát thật mỏng.
- Ngâm các lát mẫu vừa cắt vào trong đĩa đồng hồ chứa nước javel khoảng 15 phút để tẩy nội dung của tế bào.
- Rửa sạch nước javel bằng nước cất: dùng ống hút nhỏ giọt hút hết nước javel sau đó cho nước cất vào rửa, rửa 3 lần.
- Cho vào dĩa đồng hồ trên khoảng 10-12 giọt acid acetic ngâm trong 5 phút để loại hết nước javel thừa.
- Rửa sạch acid acetic bằng nước cất (rửa 3 lần)
- Nhuộm vi mẫu với 5-7 giọt dung dịch phẩm nhuộm son phèn lục iod để yên 3-5 phút.
- Rửa phẩm nhuộm bằng nước cất vài ba lần, ngâm vi mẫu trong nước cất.
- Nhỏ lên lame một giọt glycerin đặt vi mẫu vào đậy lamelle lại và quan sát dưới kính hiển vi.
2.2.3. Quan sát và nhận dạng mô
a. Mô che chở sơ cấp - biểu bì
Biểu bì nằm ở mặt ngoài và bảo vệ cho các cơ quan của cây còn non, thường là một lớp tế bào. Các tế bào có vách bằng celulose mỏng ở phía trong và dày ở phía ngoài. Bên ngoài biểu bì có lớp cutin không thấm nước nhưng bắt màu lục iod.
Qua lát cắt ngang, mỗi khí khẩu gồm hai tế bào hình hạt đậu có dạng gần tròn, bên trong chứa lục lạp. Khe nhỏ giữa hai tế bào khẩu gọi là tiểu khổng thông với một khoảng trống bên trong gọi là phòng dưới khẩu. Các tế bào biểu bì liền kề với tế bào khí khẩu có kích thước to được gọi là tế bào kèm. Một số tế bào biểu bì chuyên hóa thành mô che chở, một số chuyên hóa thành khí khẩu.
b. Mô căn bản
Nhu mô
Các tế bào nhu mô có thể có hình đa giác, hình bản hay hình nhiều cạnh gần tròn. Các tế bào có vách cellulose mỏng. Khi nhu mô chứa lục lạp được gọi là lục mô hay nhu mô đồng hóa. Nhu mô ở rễ, thân có chức năng dự trữ chất dinh dưỡng và nước. Nhu mô ở lá có một hay nhiều loại nhu mô tùy theo lá đơn hay song tử diệp.
Giao mô
Nằm tiếp giáp với biểu bì, gồm những tế bào tiết diện ngang có hình đa giác, có vách sơ cấp bằng cellulose dày do tẩm cellulose. Khi vách dày ở các gốc thì gọi là giao mô gốc. Khi vách dày đều khắp tế bào được gọi là giao mô tròn. Ở thân, giao mô xếp thành vòng liên tục hay thành nhóm rời rạc ngay bên dưới lớp biểu bì có nhiệm vụ nâng đỡ cho cây nhất là cây non hay thân cỏ trưởng thành. Ở lá, giao mô nằm ở vùng gân chính và hai bên bìa phiến lá.
Cương mô
Nằm phía trong giao mô gồm những tế bào ở tiết diện ngang có hình đa giác, có vách thứ cấp bằng cellulose dày tẩm mộc tố. Chúng xếp thành vòng quanh thân. Cương mô cũng có nhiệm vụ nâng đỡ cho cây.
c. Mô dẫn truyền sơ cấp: nằm trong vùng trụ trung tâm của thân, rễ. Ở lá, mô dẫn truyền nằm trong các gân lá.
Mô gỗ sơ cấp: gồm mạch gỗ và nhu mô gỗ
Là những tế bào ở tiết diện ngang có hình nhiều cạnh gần tròn, tế bào có kích thước nhỏ là mạch tiền mộc được thành lập trước, tế bào có kích thước to có vách thứ cấp bằng cellulose dày tẩm thêm mộc tố gọi là mạch hậu mộc. Chung quanh các mạch gỗ gồm các tế bào nhu mô gỗ có hình đa giác có kích thước nhỏ hơn các mạch gỗ, vách tế bào nhu mô bằng cellulose
Mô libe sơ cấp: tế bào ống sàng và nhu mô libe với vách tế bào bằng cellulose
Ống sàng: là những tế bào hình đa giác ở tiết diện ngang, kích thước to có vách cellulose dày, vách ngăn ngang giữa tế bào trên và tế bào dưới gọi là sàng với nhiều lỗ nhỏ gọi là lỗ sàng. Ống sàng có nhiệm vụ vận chuyển các chất hữu cơ trong cây
Nhu mô libe: là những tế bào hình đa giác ở tiết diện ngang, kích thước nhỏ hơn ống sàng và xếp xung quanh ống sàng
Tượng tầng libe gỗ: gồm những tế bào hình chữ nhật, có vách cellulose mỏng, xếp xuyên tâm. Chúng nằm giữa mô gỗ và mô libe

Hình 2.23. Lược đồ tổng quát lá huệ ta

Hình 2.24. Chi tiết một phần lá Huệ ta
2.3. Yêu cầu phúc trình
1) Thao tác thực hành (GV chấm điểm trực tiếp)
2) Vẽ và chú thích các loại mô quan sát được.
+ Vài tế bào giao mô góc
+ Vài tế bào cương mô hoặc vài tế bào sợi cương mô
+ Một bó libe gỗ
3) Điền đầy đủ thông tin cho bảng sau:
Các loại mô
Vị trí
(rễ thân, lá)
Hình dạng tế bào
Vách tế bào (dày, mỏng, bằng chất gì)
Màu sau khi nhuộm
Chức năng
4) Chú thích cho hai hình vẽ sau

Hình 2.25. Lược đồ cấu tạo lát cắt ngang của thân bí rợ

Hình 2.26. Cấu tạo chi tiết mô dẫn truyền ở thân Bí rợ