Bổ sung kiến thức: Virus Zika; Sốt bại liệt
Các triệu chứng của bệnh virus Zika có thể được điều trị bằng thuốc hạ sốt và giảm đau thông thường, nghỉ ngơi và uống nhiều nước.
Việt Nam khuyến cáo thai phụ hoãn du lịch đến vùng có virus Zika / Dấu hiệu nhận biết cơ thể đang mắc virus Zika.
Zika không phải là virus mới nhưng gần đây bùng phát thành dịch. So với bệnh sốt xuất huyết- cùng do muỗi Aedes truyền thì bệnh do virus Zika nhẹ hơn, 80% không có biểu hiện bệnh. Tuy nhiên điều khiến các chuyên gia y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các nước lo ngại là sự gia tăng bất thường của dị tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh và hội chứng Guillain-Barré.
WHO giải đáp một số thắc mắc về virus Zika:
Virus Zika xảy ra ở đâu?
Virus Zika xảy ra ở vùng nhiệt đới nơi có các quần thể muỗi lớn, lưu hành ở châu Phi, châu Mỹ, Nam Á và Tây Thái Bình Dương.
Virrus này được phát hiện lần đầu vào năm 1947, nhưng trong nhiều năm chỉ có một số trường hợp rải rác được phát hiện ở châu Phi và Nam Á. Năm 2007, dịch bệnh đầu tiên được ghi nhận ở Thái Bình Dương. Từ năm 2013, dịch bệnh được báo cáo từ Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ và châu Phi. Môi trường nơi muỗi có thể sống và sinh sôi ngày càng mở rộng, tác động của đô thị hóa và toàn cầu hóa, những vụ dịch bệnh lớn virus này ở đô thị có khả năng xảy ra trên toàn cầu.
Giới chức y tế đang điều tra mối liên hệ giữa sự bùng phát dịch bệnh virus Zika và sự gia tăng bất thường của dị tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh. Ảnh: BBC.
Người nhiễm virus Zika như thế nào?
Người bị muỗi Aedes nhiễm bệnh đốt có thể nhiễm virus Zika. Đây cũng là loại muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết, bệnh chikungunya và sốt vàng.
Muỗi Aedes sinh sản như thế nào?
Chỉ có muỗi cái đốt; khi ăn no, nó cần nghỉ ngơi 3 ngày trước khi đẻ trứng. Trứng có thể tồn tại đến một năm mà không cần nước. Khi có nước và chỉ cần một lượng nhỏ nước đọng là đủ để trứng phát triển thành ấu trùng và sau đó thành muỗi trưởng thành. Muỗi bị nhiễm từ những người có virus.
Muỗi Aedes có thể tồn tại ở đâu?
Có 2 loại muỗi Aedes có khả năng truyền virus Zika. Trong hầu hết các trường hợp, Zika lây lan qua muỗi Aedes aegypti (muỗi vằn) ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Muỗi Aedes albopictus cũng có thể truyền virus. Muỗi này có thể ngủ đông và tồn tại ở các vùng có nhiệt độ mát hơn.
Muỗi Aedes có thể di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác hay từ vùng này đến vùng khác được không?
Muỗi Aedes có khả năng bay yếu; không thể bay quá 400 m. Nhưng nó có thể vô tình được vận chuyển bởi con người từ nơi này đến nơi khác (như ở phía sau xe, cây cối). Nếu nó có thể tồn tại trong môi trường nhiệt độ của điểm đến, về mặt lý thuyết nó có thể tự sinh sản và truyền virus Zika tới các khu vực mới.
Những triệu chứng của bệnh virus Zika?
Virus Zika thường gây bệnh nhẹ; với các triệu chứng xuất hiện một vài ngày sau khi bị muỗi nhiễm bệnh đốt. Hầu hết người bệnh sẽ bị sốt nhẹ và phát ban; một số có thể viêm kết mạc, đau cơ và khớp và cảm thấy mệt mỏi. Các triệu chứng thường hết trong khoảng 2-7 ngày.
Những biến chứng tiềm ẩn của virus Zika?
Từ trước năm 2007 không có một vụ dịch virus Zika lớn nào được ghi nhận, nên hiểu biết về các biến chứng của bệnh này là rất hạn chế.
Trong thời gian dịch Zika đầu tiên diễn ra tại Polynesia thuộc Pháp năm 2013-2014, trùng với khoảng thời gian xảy ra dịch sốt xuất huyết, cơ quan y tế quốc gia báo cáo về sự gia tăng bất thường đối với hội chứng Guillain-Barré- viêm đa rễ thần kinh. Các điều tra hồi cứu về sự ảnh hưởng này đang được tiến hành. Trong vụ dịch virus Zika đầu tiên ở Brazil năm 2015, cũng nhìn thấy sự gia tăng của hội chứng này.
Trong năm 2015, cơ quan y tế địa phương ở Brazil cũng quan sát thấy có sự gia tăng trẻ sơ sinh với dị tật đầu nhỏ cùng thời điểm bùng phát dịch virus Zika. Cơ quan chức năng đang điều tra mối liên quan giữa dị tật này với virus Zika.
Hội chứng Guillain-Barré là một tình trạng mà trong đó hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công một phần của hệ thần kinh. Các triệu chứng chính bao gồm yếu cơ và cảm giác kiến bò (tê và ngứa) ở tay và chân. Các biến chứng nặng có thể xảy ra nếu các cơ hô hấp bị ảnh hưởng, cần phải nhập viện. Hầu hết trường hợp bị ảnh hưởng bởi hội chứng Guillain-Barré sẽ phục hồi.
Phụ nữ mang thai có nên lo lắng về Zika?
Cơ quan y tế đang điều tra mối liên quan tiềm năng giữa virus Zika ở phụ nữ mang thai và dị tật đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh của họ. Cho đến khi có thể hiểu rõ hơn về mối liên quan này, những phụ nữ đang mang thai hoặc dự định có thai cần hết sức lưu ý bảo vệ mình khỏi bị muỗi đốt.
Nếu bạn đang mang thai và nghi ngờ có thể có bệnh virus Zika, hãy hỏi ý kiến bác sĩ để được theo dõi chặt chẽ trong quá trình mang thai.
Dị tật đầu nhỏ là gì?
Dị tật đầu nhỏ là một tình trạng hiếm gặp khi một trẻ sơ sinh có đầu nhỏ bất thường. Điều này là do sự phát triển não không bình thường của trẻ từ khi còn trong bụng mẹ hoặc trong giai đoạn sơ sinh. Trẻ sơ sinh và trẻ em bị tật đầu nhỏ thường gặp phải những khó khăn với sự phát triển não bộ khi chúng lớn lên.
Tật đầu nhỏ có thể do ảnh hưởng của một loạt các yếu tố môi trường và di truyền như hội chứng Down; sử dụng hay tiếp xúc với ma túy, rượu hoặc các chất độc khác trong tử cung; và nhiễm rubella trong khi mang thai.
Điều trị bệnh virus Zika như thế nào?
Các triệu chứng của bệnh virus Zika có thể được điều trị bằng thuốc hạ sốt và giảm đau thông thường, nghỉ ngơi và uống nhiều nước. Nếu triệu chứng xấu đi, mọi người nên tìm tư vấn y tế. Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu hay văcxin cho bệnh này.
Bệnh virus Zika được chẩn đoán như thế nào?
Với hầu hết các trường hợp được chẩn đoán nhiễm virus Zika, việc chẩn đoán dựa trên các triệu chứng và tiền sử gần đây của họ (ví dụ muỗi đốt hoặc đi đến nơi có virus Zika lưu hành). Phòng thí nghiệm có thể xác định chẩn đoán bằng xét nghiệm máu.
Tôi có thể làm gì để bảo vệ bản thân mình?
Việc bảo vệ tốt nhất đối với virus Zika cũng như các bệnh khác do muỗi truyền như sốt xuất huyết, sốt vàng… là tránh bị muỗi đốt. Điều này có thể được thực hiện bằng cách sử dụng thuốc chống côn trùng; mặc quần áo (tốt hơn là màu sáng) che càng kín cơ thể càng tốt; sử dụng các rào cản vật chắn như lưới chống muỗi, đóng kín cửa ra vào và cửa sổ; ngủ màn. Ngoài ra, cần đổ hết nước, làm sạch hoặc đậy kín các thùng chứa nước như xô, chậu hoa hoặc lốp xe cũ, để loại bỏ những nơi muỗi có thể sinh sản.
Tôi có nên không đi đến những nơi mà bệnh virus Zika đang xảy ra?
Để phòng tránh virus Zika và các bệnh do muỗi truyền khác, tất cả mọi người nên tránh để muỗi đốt bằng các biện pháp được mô tả ở trên. Phụ nữ đang mang thai hoặc dự định có thai nên làm theo lời khuyên này và cũng có thể tham khảo ý kiến cơ quan y tế địa phương nếu đi tới một khu vực đang có dịch virus Zika.
Dựa trên những bằng chứng sẵn có, WHO không khuyến cáo bất kỳ hạn chế nào về thương mại hay du lịch liên quan đến bệnh virus Zika.

Nam Phương
SỐT BẠI LIỆT
Sốt bại liệt là bệnh truyền nhiễm cấp, do một loại
siêu vi trùng đường ruột gây ra, có thể lây lan thành dịch. Siêu vi trùng bại
liệt cùng lúc có thể gây bệnh ở nhiều cơ quan và tổ chức, đặc biệt ở hệ thần
kinh vận động. Khi mắc bệnh, một số ít bệnh nhân có biểu hiện liệt, phần lớn
còn lại là thể nhẹ (không triệu chứng lâm sàng hoặc không liệt).
II- DỊCH TỄ HỌC:
- Ở Việt Nam, trước thập niên 90, tỷ lệ mắc bệnh sốt
bại liệt là 1,66 ca / 100.000 dân (miền Bắc - 1985). Nhờ áp dụng triệt để
chương trình tiêm chủng mở rộng và chương trình tiêm chủng sốt bại liệt bổ sung
hàng năm mà số ca mắc hàng năm có khuynh hướng giảm dần (chỉ có 2 ca trong cả
nước được báo cáo năm -1996).
- Bệnh xảy ra quanh năm. Yếu tố môi trường giữ vai
trò quan trọng trong việc tiếp xúc giữa người với virus gây bệnh, cũng như sự
xuất hiện kháng thể chống virus. Ở những vùng vệ sinh môi cảnh kém, việc tiếp
xúc với virus sớm nên hầu hết trẻ dưới 15 tuổi đã có kháng thể chống virus bại
liệt. Ở những quốc gia này, tuổi thường mắc bệnh là dưới 5 tuổi. Trái lại ở
những quốc gia phát triển, việc tiếp xúc với virus thường muộn, việc xuất hiện
kháng thể chống virus bại liệt thường trễ (khoảng 20% trẻ trên 15 tuổi chưa có
kháng thể chống virus bại liệt - Hoa Kỳ).
- Người là nguồn bệnh duy nhất của virus bại liệt.
Người bệnh không có biểu hiện lâm sàng, người bị thể nhẹ, thể không liệt là
nguồn lây lan quan trọng nhất. Một số súc vật cũng có thể mang virus bại liệt
nhưng không có khả năng truyền sang cho người. Sữa cũng là nguồn lây cần lưu ý
trong mùa dịch. Ruồi, nhặng, gián là trung gian truyền bệnh, tác nhân vận
chuyển virus từ phân người bệnh sang người lành.
- Đường lây chính là đường tiêu hóa (trực tiếp hoặc
gián tiếp qua nước, thực phẩm, tay bẩn …). Một số ít được ghi nhận lây qua
đường hô hấp.
- Tuổi thường mắc bệnh < 5 tuổi. Trẻ em < 6
tháng ít bị bệnh vì nhận được kháng thể từ mẹ truyền sang.
- Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ nam bằng với nữ (nhưng tỷ lệ
trẻ nam bị liệt nhiều hơn nữ). Ngược lại ở người lớn thì nữ nhhiều hơn nam.
III- NGUYÊN NHÂN VÀ SINH BỆNH HỌC:
A. THEO YHHĐ:
- Do một loại siêu vi trùng đường ruột gây ra, có tên
là Poliovirus thuộc gia đình Picornaviridae. Virus này mọc dễ ở môi trường tế
bào thận người.
- Quá trình sinh bệnh của sốt bại liệt xảy ra qua 3 giai đoạn:
1/ Giai đoạn xâm nhập và tăng sinh:
Sau khi xâm nhập qua đường tiêu hóa hoặc hô hấp, virus đến họng và đường tiêu hóa dưới. Thông qua đường mũi miệng đến các hạch bạch huyết khu vực xung quanh họng và đường tiêu hóa dưới. Chúng tiếp tục cư ngụ và tăng sinh tại đây. Trong giai đoạn này, virus được tìm thấy trong nhớt cổ họng và trong phân.
2/ Giai đoạn tiền triệu hay giai đoạn nội tạng:
Virus từ các hạch khu vực theo máu đến hệ thần kinh trung ương, các cơ quan nội tạng như gan, lách, tủy xương, hạch lympho sâu, da, niêm mạc. Tại các cơ quan này, virus tiếp tục sinh sản rồi gây những triệu chứng lâm sàng đầu tiên của sốt bại liệt. (Đối với thể không có triệu chứng lâm sàng thì ở giai đoạn này virus không nhân lên nữa mà cơ thể xuất hiện kháng thể và hiện tượng nhiễm virus chấm dứt.
3/ Giai đoạn xâm nhập và tăng sinh của virus ở hệ thống thần kinh trung ương:
Giai đoạn này virus từ các cơ quan nội tạng vào máu lần thứ 2 để đến hệ thần kinh trung ương ở nhiều vị trí khác nhau và gây những triệu chứng lâm sàng của hệ thần kinh trung ương. Đồng thời ở giai đoạn này kháng thể xuất hiện và hiện tượng virus nội tạng biến mất.
Do bệnh tổn thương ở tủy sống (chủ yếu ở vùng trước tủy) thường nhất là tủy cổ và tủy lưng. Nếu tổn thương ở tủy cổ và tủy ngực sẽ có liệt cơ hô hấp, cơ hoành, cơ liên sườn gây khó thở.
B. THEO YHCT:
Bệnh chủ yếu do phong, nhiệt, thấp, thử tà dịch gây ra. Xâm nhập từ đường mũi miệng vào 2 kinh Phế Vị, sau đó ảnh hưởng tới Tâm, Can, Thận, Não …
Sơ đồ bệnh lý sốt bại liệt theo YHCT
IV- BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:
A. THEO YHHĐ:
Sốt bại liệt có thời kỳ ủ bệnh ngắn nhất 3 ngày, dài
nhất 35 ngày và nói chung là từ 5 - 14 ngày. Sốt bại liệt có thể gây ra 4 bệnh
cảnh lâm sàng khác nhau:
- Sốt bại liệt thể liệt, chiếm tỷ lệ 1% trường hợp
nhiễm virus bại liệt.
- Sốt bại liệt thể không liệt, chiếm tỷ lệ 1%.
- Sốt bại liệt thể bệnh nhẹ, chiếm 4 - 8%.
- Sốt bại liệt thể không triệu chứng lâm sàng, chiếm
90 - 95%.
Mục tiêu bài học tập trung vào việc giải quyết sốt
bại liệt thể có liệt.
Bệnh thường phân làm 5 kỳ:
1. Tiền triệu:
Bệnh nhân có những triệu chứng không điển hình,
thường thể hiện qua các hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp trên (sốt, đau họng,
chảy nước mũi, họng đỏ …), hội chứng nhiễm trùng đường tiêu hóa (sốt, đau bụng
lan tỏa, ói mửa, tiêu chảy hoặc táo bón), hội chứng giống cảm cúm (sốt, đau
nhức mình mẩy, đau cơ xương khớp).
2. Thời kỳ toàn phát:
- Dấu kích thích màng não:
+ Đau và co cứng các cơ sau cổ, thân mình và đùi.
+ Phát hiện bằng các nghiệm pháp:
* Dấu 3 điểm (Tripod - sign): Để em bé nằm ngửa trên
giường, yêu cầu em ngồi dậy, em bé sẽ nghiêng sang bên rồi ngồi dậy, hai tay
chống xuống mặt giường, lưng ưỡn về phía trước. Dấu hiệu này cho thấy các cơ
sau cột sống lưng bị co cứng.
* Dấu cằm ngực (Chin - chest test). Trẻ ngồi, yêu cầu
bé gập đầu để cằm chạm ngực, trẻ không thể thực hiện được động tác này khi các
cơ vùng sau cổ bị co cứng.
* Dấu hôn đầu gối: Trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng cứng.
Thầy thuốc dùng tay giữ đầu gối và yêu cầu trẻ ngồi dậy. Nếu các cơ sau đùi
căng cứng sẽ kéo đầu gối lên cao chạm vào đầu mũi của trẻ.
- Hội chứng màng não và dấu hiệu màng não:
+ Nhức đầu, buồn nôn, ói mửa, táo bón. Có thể thấy
thóp phồng ở trẻ nhỏ.
+ Kernig, Brudzinsky (+).
- Thay đổi phản xạ nông sâu: Tùy theo vùng tổn
thương, bệnh nhân có thể có giảm hoặc mất phản xạ da bụng, da bìu. Phản xạ sâu
thay đổi sau khi phản xạ nông thay đổi 8 - 24 giờ.
- Yếu liệt cơ: Thường xuất hiện đột ngột và đa số
diễn tiến trong vòng 48 - 72 giờ thì ngưng liệt. Một số ít trường hợp liệt rất
đột ngột (liệt thể West). Bệnh nhân không có triệu chứng của giai đoạn tiền
triệu, không có dấu hiệu kích thích màng não mà liệt là triệu chứng đầu tiên
của não. Tổn thương trong sốt bại liệt rất thay đổi. Liệt mềm, liệt không đồng
đều, liệt không đối xứng, teo cơ nhanh nhiều và sớm là những triệu chứng đặc
biệt quan trọng. Tùy theo vị trí tổn thương, sốt bại liệt thể liệt có những dạng
lâm sàng sau:
+ Sốt bại liệt thể tủy sống:
* Liệt cơ cổ, cơ vai, cơ chi trên và cơ hoành (vùng
tủy cổ).
* Liệt cơ ngực, cơ liên sườn, cơ bụng trên dẫn đến
khó thở nhanh, nông, đều (vùng tủy ngực).
* Liệt các cơ lưng, cơ bụng dưới và cơ chi dưới (vùng
tủy lưng).
* Trong thể nặng, hệ thống thần kinh thực vật có thể
bị tổn thương gây tăng huyết áp, tăng nhịp tim, sốt cao, vã mồ hôi …
+ Sốt bại liệt thể hành tủy: Thường phối hợp với thể
tủy sống. Đây là thể có tỷ lệ tử vong cao nhất.
* Tổn thương trung khu hô hấp: nấc cụt, khó thở ..
* Tổn thương trung khu tuần hoàn: nhịp tim không đều,
đầu chi lạnh, trụy mạch …
* Tổn thương trung khu điều hòa nhiệt độ: sốt cao …
* Tổn thương các nhân thần kinh sọ não dưới như IX,
X, XI, XII: khó thở thanh quản, nuốt khó, nói giọng mũi.
+ Sốt bại liệt thể tủy sống - hành tủy: Triệu chứng
lâm sàng phối hợp 2 thể hành tủy và tủy sống.
+ Sốt bại liệt thể não: Triệu chứng lâm sàng biểu
hiện của viêm não khu trú hoặc lan tỏa.
3. Thời kỳ hồi phục: Nhiệt độ trở về bình thường, liệt không tiến triển, lực
cơ và sức cơ dần hồi phục. Bắt đầu từ đầu chi, những tháng đầu hồi phục nhanh
và 6 tháng sau tiến triển chậm dần.
4. Thời kỳ di chứng: Cơ teo hoặc nhão, khớp biến dạng, chân đi chúc xuống như
chân ngựa, lật trong hoặc ngoài, chi trở nên nhỏ nhắn, cột sống biến dạng gù,
vẹo …
B. THEO YHCT:
1. Thể Tà
uất Phế Vị:
- Sốt, có mồ hôi, ho chảy mũi, họng đỏ đau.
- Toàn thân khó chịu, hoặc có đau đầu.
- Ói mửa, đau bụng, tiêu chảy, táo bón, phiền táo,
thích ngủ.
- Rêu nhớt mỏng, mạch nhu sác.
2. Thể
Thấp nhiệt tắc lạc:
- Sau khi hết triệu chứng Phế Vị, lại phát sốt, chi
đau nhức, xoay trở khó khăn, khóc không ngừng.
- Sau đó xuất hiện liệt, có thể thấy ở một bộ phận,
có khi một bên cũng có khi hai bên, thường nhiều ở hai chân.
- Chất lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch huyền sác hoặc
nhu sác.
3. Thể Khí
hư huyết trệ:
- Sau sốt thì tê, mềm mất lực, liệt, 6 tháng sau chưa
hồi phục.
- Sắc mặt vàng, dễ ra mồ hôi.
- Lưỡi nhạt ít rêu, mạch trầm tế sáp.
4. Thể Can
Thận hư:
- Liệt, chi liệt lạnh, cơ teo rõ, ngắn nhỏ, hoặc dị
hình, cột sống gù, vẹo, vận động kém.
- Lưỡi nhạt hoặc đỏ, ít rêu hoặc trắng, mạch trầm tế
hoặc huyền tế vô lực.
- Liệt nặng, nói chung khó hồi phục.
V- XÉT NGHIỆM CẬN LÂM SÀNG:
1- Dịch não tủy:
- Trong hoặc hơi đục, áp lực tăng cao.
- Tế bào từ 25 - 500 BC/mm3, thời kỳ đầu
chủ yếu là tế bào trung tính, sau đó chủ yếu là tế bào lympho. Sau 2 - 3 tuần
trở lại bình thường.
- Đạm tăng cao vào tuần thứ 3, trở về bình thường vào
tuần thứ 5.
- Đường và Clo bình thường.
2- Huyết thanh chẩn đoán:
- Có 2 loại kháng thể kháng virus bại liệt (kháng thể
kết hợp bổ thể xuất hiện từ ngày thứ 10 và kéo dài 3 - 5 năm, kháng thể trung
hòa xuất hiện từ ngày thứ 7 và tồn tại suốt đời.
- Phải được thực hiện 2 lần, lần 2 cách lần 1 khoảng
10 - 14 ngày và hiệu giá kháng thể lần 2 phải gấp 4 lần hiệu giá kháng thể lần
1.
3- Phân lập virus:
- Cấy máu: trước khi khởi phát 2 - 3 ngày và sau khi
khởi phát 1 - 2 ngày.
- Cấy nhớt cổ họng: trước khi khởi phát và kéo dài
khoảng 10 ngày sau khi khởi phát.
- Cấy phân: trước giai đoạn khởi phát và kéo dài đến
giai đoạn hồi phục, có thể kéo dài đến 17 tuần.
- Cấy dịch não tủy: hiếm khi phân lập được, nhưng đôi
khi có thể phát hiện được vào ngày 14- 16 sau khi tiếp xúc.
VI- ĐIỀU TRỊ:
A. THEO YHHĐ:
1/ Nguyên tắc trị liệu:
- Hồi sức cấp cứu khi có những triệu chứng đe dọa
tính mạng như liệt cơ hô hấp, liệt hành tủy.
- Điều trị triệu chứng.
- Giảm thiểu những di chứng, tạo điều kiện để bệnh
nhân phục hồi những di chứng vận động và tâm lý.
2/ Cụ thể điều trị:
- Hồi sức hô hấp - tuần hoàn.
- Phòng ngừa và điều trị bội nhiễm.
- Vật lý trị liệu.
- Phẫu thuật chỉnh hình.
B. THEO YHCT:
1. Thể Tà uất Phế Vị:
- Pháp trị: Giải biểu thanh nhiệt. Sơ phong lợi thấp.
- Nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường. Tránh châm cứu.
- Ăn uống đủ calo. Giải quyết triệu chứng sốt, đau,
ho …
- Bài thuốc sử dụng:
Bài Cát căn cầm liên thang gồm Cát căn 10g,
Hoàng cầm 6g, Hoàng liên 6g, Cam thảo 3g.
2. Thể Thấp nhiệt tắc lạc:
- Pháp trị: Thanh nhiệt lợi thấp, thư cân hoạt lạc.
- Nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường. Tránh châm cứu.
- Ăn uống đủ calo. Giải quyết triệu chứng sốt, đau,
ho …
- Đặt đúng tư thế để phòng co rút, tay chân thẳng,
bàn chân vuông góc.
- Bài thuốc sử dụng:
Bài thuốc Khương hoạt thắng thấp thang gồm Khương
hoạt 6g, Độc hoạt 6g, Phòng phong 6g, Xuyên khung 6g, Mạn kinh tử 9g, Cam thảo
3g.
Phân tích bài thuốc
|
Vị thuốc |
Dược lý YHCT |
Vai trò |
|
Mạn kinh tử |
Cay, đắng, hơi hàn. Tán phong
nhiệt. |
Quân |
|
Phòng phong |
Cay, ngọt, ôn, không độc. |
Thần |
|
Khương hoạt |
Ngọt, đắng, bình, không độc |
Tá |
|
Độc hoạt |
Ngọt, đắng, bình, không độc |
Tá |
|
Xuyên khung |
Đắng, ấm. Hành khí hoạt huyết, khu
phong, chỉ thống. |
Tá |
|
Sinh thảo |
Ngọt, bình. Bổ Tỳ vị, nhuận phế,
thanh nhiệt giải độc, điều hòa các vị thuốc. |
Sứ |
3. Thể Khí hư huyết trệ:
- Pháp trị: Ích khí hoạt huyết, khu tà thông lạc.
- Tiếp tục cho ăn uống đủ calo.
- Bắt đầu sử dụng phối hợp châm cứu và tập vật lý trị
liệu ngay khi hết sốt. Tập vật lý trị liệu lúc đầu thụ động, sau đó chủ động,
theo tầm hoạt động của khớp.
- Sử dụng nạng, nẹp và các dụng cụ trợ giúp khác để
phòng co rút và biến dạng khớp.
- Bài thuốc Bổ dương hoàn ngũ thang gồm Huỳnh
kỳ 15g, Đương quy 10g, Địa long 10g, Xích thược 6g, Hồng hoa 5g, Xuyên khung
6g, Đào hồng 6g.
- Phương pháp châm cứu: Thường sử dụng những huyệt
trên các kinh Dương minh của tay và chân bên liệt, phối hợp với huyệt kinh điển
phục hồi liệt như Dương lăng tuyền. Thay đổi huyệt mỗi ngày. Thường phối hợp
Mai hoa châm với xoa bóp cơ cho trẻ.
4. Thể Can Thận hư:
- Pháp trị: Cường tráng cân cốt, kiện não thông lạc.
- Bài thuốc Hổ tiềm hoàn (Ích Can thận, cường
cân cốt) gia Hoạt lạc đơn (Ôn thông kinh lạc) gồm: Hổ kinh cốt 30g, Quy
bản 120g, Hoàng bá 150g, Tri mẫu 60g, Thục địa 60g, Ngưu tất 45g, Bạch thược
60g, Tỏa dương 45g, Đương quy 60g, Trần bì 60g, Can khương 15g, Thịt dê 60g,
Xuyên ô (chế) 180g, Địa long 180g, Thiên nam tinh 180g, Nhũ hương 60g, Một dược
60g.
- Phương pháp châm cứu (như trên).
VII- PHÒNG BỆNH:
1. Phòng ngừa chung:
- Cách ly bệnh nhân khoảng 2 tuần.
- Tránh tụ tập những đám đông khi có dịch xảy ra.
- Cân nhắc trước khi cắt amygdal hoặc nạo VA những
bệnh nhân trong vùng đang có dịch.
- Tuyên truyền giáo dục vệ sinh môi trường, vệ sinh
ăn uống.
2. Chủng ngừa:
Thực hiện đầy đủ chương trình tiêm chủng mở rộng. Cho trẻ uống đầy đủ vaccin
chống bại liệt (vaccin Sabin uống, được làm bằng virus giảm độc lực).
(Bài giảng Bệnh học và
điều trị - Tập 2. Bộ môn YHCT. Trường ĐHYD TP Hồ Chí Minh)