BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và theo dõi tăng trưởng
Định nghĩa: Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể.
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc vấn đề về dinh dưỡng.
Một số phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Một số phương pháp chính thường được sử dụng:
- Nhân trắc học
- Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.
- Khám lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng thiếu dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng.
- Các xét nghiệm chủ yếu là hoá sinh (máu, nước tiểu...).
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng.
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh tật và tình trạng dinh dưỡng.
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ.
Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng
Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá tình trạng dinh dưỡng. Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quan trọng.
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
a) Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng.
b) Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao đứng.
c) Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt như lớp mỡ dưới da và cơ...
Ưu điểm
- Đơn giản, an toàn và có thể điều tra được trên diện rộng.
- Trang thiết bị rẻ, có khả năng mang vác được.
- Không yêu cầu cán bộ có trình độ cao.
- Số liệu có độ tin cậy.
- Có thể đánh giá tình trạng dinh dưỡng trong quá khứ.
- Có thể xác định được mức độ suy dinh dưỡng.
- Có thể dùng để đánh giá biến đổi tình trạng dinh dưỡng.
- Các test sàng lọc nhằm xác định những cá thể có nguy cơ cao.
Hạn chế
- Không đánh giá được sự thay đổi nhỏ, trong thời gian ngắn.
- Không xác định được những thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu.
- Không phân biệt được những rối loạn chuyển hoá / di truyền / nội tiết với thiếu hụt dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng.

II. KỸ THUẬT THU THÂP SÔ LIÊU NHÂN TRĂC
1. Tính tuổi
- Tính tháng tuổi (đối với trẻ dưới 5 tuổi):
- 0 tháng tuổi : Kế từ khi mới sinh đến trước ngày tròn tháng (từ 1 đến 29 ngày).
- 1 tháng tuổi : Kể từ ngày tròn 1 tháng đến trước ngày tròn 2 tháng (từ 30 ngày đến 59 ngày).
- 12 tháng tuổi: Từ tròn 12 tháng đến 12 tháng 29 ngày.
- Tính năm tuổi:
- 0 tuổi hay dưới một tuổi: Từ sơ sinh đến trước ngày đầy năm (tức là năm thứ nhất)
- Một tuổi : Từ ngày tròn 1 năm đến trước ngày sinh nhật lần thứ hai (tức là năm thứ hai).
Khi nói trẻ dưới 5 tuổi tức là trẻ từ 0 đến 59 tháng.
2. Kỹ thuật cân
Đo cân nặng là số đo thường được sử dụng nhất trong nghiên cứu nhân trắc.
Dụng cụ:
Tuỳ điều kiện, có thể chọn một trong những loại cân khác nhau như: cân lòng máng, cân treo, cân đòn, cân điện tử, cân đồng hồ...
Cân phải nhạy (thường độ chia độ tối thiểu cần đạt 0,1kg) và đảm bảo độ chính xác.
Vị trí đặt cân:
Phòng cân cần phải thoáng mát về mùa hè, kín gió về mùa đông và phải đảm bảo chiếu sáng tốt. Nếu là cân bàn: Đặt ở nơi bằng phẳng chắc chắn, thuận tiện cho đối tượng bước lên bước xuống cân.
Cân treo đồng hồ, cân đòn treo: Treo cân ở vị trí chắc chắn (ví dụ như xà nhà, cành cây to). Mặt cân ngang tầm mắt của người điều tra, dây treo bền chắc, nếu là cân đòn treo thì cần có dây bảo vệ quả cân.
Thao tác cân:
Chỉnh về số 0 hoặc vị trí thăng bằng sau mỗi lần cân
Kiểm tra độ chính xác của cân bằng cách kiểm tra cân với một vật đã biết trọng lượng sau một số lần cân (ví dụ 5-10 lần).
- Cân
vào một thời điểm nhất định, tốt nhất là vào buổi sáng, khi vừa ngủ
dậy, sau khi đi tiểu đại tiện, vẫn chưa ăn gì. Nếu điều kiện lý tưởng
trên không đạt được thì ít nhất cũng phải cân trước bữa ăn và trước giờ
lao động.
- Đối tượng mặc quần áo tối thiểu, bỏ dày dép, mũ nón và các vật nặng khác trong người.
- Đứng
giữa bàn cân mắt nhìn thẳng, không cử động (cân bàn). Với trẻ nhỏ đặt
nằm ngửa hoặc ngồi giữa lòng máng hoặc thúng cân (cân lòng máng, cân bàn
đồng hồ) hoặc treo lên trên quang cân, túi cân, tã cân (Cân treo đồng
hồ).
- Người đọc nhìn thẳng chính giữa mặt cân, đọc khi cân thăng bằng, ghi số theo kg với 1 số thập phân (ví dụ 10,6kg, 9,5kg...).

3. Kỹ thuật đo
Đo chiều cao đứng
* Dụng cụ:
Sử dụng thước đo chiều cao đứng, cho trẻ hơn > 24 tháng tuổi và người lớn. Trong nghiên cứu thường sử dụng thước gỗ (xem hình 3), nếu có điều kiện sử dụng thước microtoise. Thước phải có độ chia tối thiểu 0,1cm.
Vị trí đặt thước:
Đối với thước đo chiều cao đứng bằng gỗ, cần đặt thước ở vị trí bằng phẳng, chắc chắn.
Đối với thước Microtoise, thước phải được đóng chắc chắn trên một mặt phẳng thẳng đứng, và phải đảm bảo khi kéo thước chạm đất, thước chỉ số 0.
Thao tác đo:
- Bỏ guốc, giầy, dép, mũ nón, bờm tóc, khăn, búi tóc...
- Đứng quay lưng vào thước đo, 2 chân sát vào nhau.
- Đảm bảo các điểm chạm vào mặt phẳng có thước: 2 gót chân, 2 bụng chân, 2 mông, 2 vai và chẩm
- Trục cơ thể trùng với trục thước đo, mắt nhìn thẳng 2 tay buông thõng 2 bên.
- Dùng eke áp sát đỉnh đầu, thẳng góc với thước đo.
- Đối
với trẻ nhỏ, cần thêm một người hỗ trợ giữ 2 cổ chân và gối của trẻ,
người đo 1 tay giữ cằm của trẻ, còn tay kia kéo êke áp sát đỉnh đầu của
trẻ (xem hình 3).
- Đọc kết quả theo cm với 1 số lẻ.
* Dụng cụ:
Sử dụng thước đo chiều dài nằm, cho trẻ dưới 24 tháng tuổi. Trong nghiên cứu thường sử dụng thước đo chiều dài nằm (xem hình 4). Thước phải có 2 rãnh thước đo ở 2 bên với độ chia tối thiểu
0,1cm.
Vị trí đặt thước:
Để thước trên mặt phẳng nằm ngang, vững chắc (trên mặt bàn hoặc dưới sàn nhà...)
Thao tác đo: Cần ít nhất 2 người hỗ trợ lẫn nhau.
- Bỏ tất, giầy dép, mũ v.v...
- Đặt
trẻ nằm ngửa trên mặt thước, người thứ nhất giữ đầu trẻ sao cho mắt trẻ
hướng thẳng lên trần nhà (vuông góc với mặt thước), đỉnh đầu chạm vào
êke định chỉ số 0.
- Người thứ 2 giữ thẳng đầu gối của trẻ sao cho 2 gối trẻ thẳng, 2 gót chân chạm nhau, đảm bảo 5 điểm chạm: Gót chân, bụng chân, mông, vai và chẩm áp sát vào thước đo.
- Trục của cơ thể phải trùng với trục của thước.
- Người
thứ 2 giữ thẳng đầu gối của trẻ sao cho 2 gối trẻ thẳng, 2 gót chân
chạm nhau, đảm bảo các điểm chạm vào mặt phẳng có thước: 2 gót chân, 2
bụng chân, 2 mông, 2 vai và chẩm. Trục cơ thể trẻ trùng với trục thước
đo. Dùng tay còn lại đưa êke di động của thước áp sát vào bàn chân, bàn
chân thẳng đứng, vuông góc với mặt thước.
- Đọc kết quả theo cm với 1 số lẻ thập phân
- Khi trẻ không đo đứng được sẽ phải đo nằm rồi lấy kết quả trừ đi 0.7cm.
Hình 2: Dụng cụ và cách đo chiều dài nằm của trẻ dưới 24 tháng tuổi

Hình 3: Đo chiều cao đứng của trẻ từ 24 tháng tuổi trở lên.

4. Đo chu vi vòng cánh tay:
Sự phát triển kém hoặc suy mòn các cơ là những biểu hiện chính của suy dinh dưỡng thiếu protein- năng lượng, nhất là trẻ bé. Ở người lớn và người trưởng thành, khối lượng cơ lại tỷ lệ với sự tăng vận động của một nhóm cơ nào đó.
Trong thực hành dinh dưỡng, đánh giá khối lượng cơ thường được thông qua vòng đo trực tiếp các chi.
Kỹ thuật: Vòng đo thường dùng nhất là vòng đo cánh tay trái, tư thế bỏ thõng tự nhiên. Dùng thước mềm, không chun giãn với độ chính xác 0,1cm. Vòng đo đi qua điểm giữa cánh tay tính từ mỏm cùng xương vai đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay. Do vòng này ít thay đổi ở trẻ từ 12-60 tháng cho nên không đòi hỏi biết tuổi chính xác ở lứa tuổi này.
Xác định điểm giữa cánh tay, trước hết cần xác định mỏm cùng vai, sau đó gập khủyu tay vuông góc, xác định mỏm trên lồi cầu xương cánh tay. Đặt vị trí số 0 của thước đo vào mỏm cùng xương vai, kéo thẳng thước đo đến mỏm trên lồi cầu xương cánh tay, đánh dấu điểm giữa cánh tay. Duỗi thẳng cánh tay của trẻ, vòng thước đo quanh điểm giữa cánh tay, mặt số của thước đo hướng lên trên, áp sát thước đo vào cánh tay của trẻ, đảm bảo sao cho thước đo có độ căng vừa phải không quá chặt, hoặc quá lỏng, đọc kết quả chính xác đến 0,1cm.
Hình 4. Kỹ thuật đo chu vi vòng cánh tay (MUAC)

III. NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ
3.1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng với cân nặng, chiều cao: 3 chỉ tiêu: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T), và cân nặng/chiều cao (CN/CC) với Quần thể chuẩn WHO 2006.
Trong các phần mềm đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện nay, người ta sử dụng SD score hay Zscore tương đương:

CÁC ĐIỂM NGƯỠNG ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
(Các số đo trong các ô bôi đậm là ở trong giới hạn bình thường)

Chú ý:
- Đứa
trẻ có chiều cao ở ranh giới này là rất cao. Cao ít khi là vấn đề sai
lệch trong tăng trưởng, trừ khi là quá mức thì có thể là biểu hiện của
rối loạn nội tiết chẳng hạn như do tăng tiết hóc môn tăng trưởng do u.
Hãy gửi đứa trẻ trong ranh giới này đi khám nếu nghi ngờ có sự rối loạn
nội tiết (ví dụ: nếu cha mẹ có chiều cao bình thường mà đứa trẻ lại có
chiều cao quá cao so với tuổi của nó).
- Một
đứa trẻ có Cân nặng/tuổi nằm ở ranh giới này có thể có vấn đề lệch lạc
về tăng trưởng, nhưng điều này được đánh giá tốt hơn từ Cân nặng/chiều
cao (dài) hoặc BMI/tuổi.
- Một điểm chấm >1 biểu hiện khả năng nguy cơ. Xu hướng ngả về đường 2 Z-Score biểu hiện một nguy cơ chắc chắn.
- Khả năng đối với một đứa trẻ bị thấp còi hoặc thấp còi nặng trở thành thừa cân.
Chiều cao theo tuổi: Chỉ tiêu chiều cao/tuổi thấp (<-2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ.
Cân nặng theo chiều cao: Cân nặng/chiều cao thấp (<-2SD) phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân bi SDD thể gày còm. Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (<-2SD) thì đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gày còm vừa thâp còi.
3.2. Ngưỡng đánh giá TTDD theo vòng cánh tay (MUAC):
Trẻ em
- ≥ 13,5cm: bình thường
- 12,5 - 13,4cm: báo động SDD
- 11,5 - 12,4cm: SDD
- < 11,5cm: SDD nặng
Theo khuyến nghị của Tổ chức y tế Thế giới năm 2006:
Suy dinh dưỡng cấp tính nặng: MUAC <11,5cm (tương tự <-3SD cân nặng/chiều cao lấy chuẩn tăng trưởng của WHO).
Suy dinh dưỡng cấp tính vừa: MUAC ≥11,5cm - <12,5mm (tương tự ≥-3SD - < -2SD Cân nặng/chiều cao so với chuẩn tăng trưởng của WHO).Người trưởng thành (CED):
- Nữ < 23cm.
- Nam <24 cm.
IV. SỬ DỤNG BIỂU ĐỒ TĂNG TRƯỞNG
Mục đích việc sử dụng biểu đồ
- Theo dõi sự tăng trưởng của trẻ.
- Theo dõi sự phát triển: lẫy, bò, đi, nói…
- Ghi nhận những sự kiện liên quan đến dinh dưỡng, sức khoẻ, đời sống của trẻ: thời điểm cho
- ăn bổ sung, ốm bệnh phải điều trị…
- Hướng dẫn các bà mẹ về cách nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ.
Quá trình theo dõi này phải được tiến hành khi trẻ mới sinh cho đến 5 tuổi.
Mô tả biểu đồ tăng trưởng (WHO 2006)
Biểu đồ tăng trưởng BĐTT bao gồm các thành phần sau:
a) Hai mặt của biểu đồ: Biểu đồ tăng trưởng (BĐTT) bao gồm hai loại biểu đồ trên cả hai mặt: Biểu đồ cân nặng theo tuổi và biểu đồ chiều dài nằm/ chiều cao đứng theo tuổi.
b) Các trục đo trong biểu đồ:
Trục tháng tuổi (nằm ở phía dưới của biểu đồ): từ 0 đến 60 tháng và được nhóm từ 1 đến 5 tuổi.
Trục thang đo:
- Biểu đồ theo dõi cân nặng theo tuổi: Trục cân nặng từ 0 đến 30 kg ở bên trái và từ 8 đến 30 kg ở bên phải (đơn vị chia 2 kg)
- Biểu đồ theo dõi chiều dài nằm/ chiều cao theo tuổi: Trục chiều dài nằm/ chiều cao đứng từ 45 đến 125 cm ở bên trái và từ 60 đến 125 cm nằm ở bên phải. (đơn vị chia 5 cm).
Cách chấm biểu đồ tăng trưởng:
Điền thông tin của xác định của trẻ vào cả hai mặt mặt của BĐTT:
- Chọn loại biểu đồ dành cho bé trai (màu xanh nước biển) hay bé gái (màu hồng nhạt) đúng với giới của trẻ được theo dõi.
- Điền đầy đủ họ và tên, địa chỉ và ngày tháng năm sinh của trẻ vào cả hai mặt của biểu đồ.
Lập lịch tháng tuổi:
- Viết tháng sinh của ngày sinh trẻ vào ô đầu tiên (ô tháng sinh) trong lịch tháng tuổi.
- Những ô tiếp theo ghi những tháng tiếp theo sau tháng sinh của trẻ.
- Hết 1 năm lại chuyển sang một năm mới (nhớ đánh dấu năm mới ở phía dưới ô tháng 1 của năm đó), cứ như vậy lập cho hết đến 60 tháng tuổi).
Chấm BĐTT cân nặng theo tuổi
- Sau khi đã có cân nặng, chiều cao hoặc chiều dài và tháng tuổi của trẻ, dùng ê-ke để tìm ra điểm chấm trên biểu đồ, một cạnh của ê-ke trùng với vạch đứng và cắt trục tháng tuổi tương ứng với tháng cân đo trẻ, cạnh kia tương ứng với cân nặng chiều cao hoặc chiều dài của trẻ. Đỉnh góc vuông của ê-ke chính là điểm chấm được trên BĐTT.
- Dù cân đo trẻ vào bất cứ ngày nào trong tháng thì điểm chấm vẫn được chấm vào cuối tháng tuổi đó (tháng tuổi đủ).
- Vị trí của điểm chấm trên các kênh của BĐTT sẽ cho biết tình trạng dinh dưỡng cân theo tuổi của trẻ tương ứng với màu của kênh trên biểu đồ.
- Nối điểm chấm của các tháng đã cân đo sẽ có đường biểu diễn tăng trưởng của trẻ.
Nhận định kết quả:
- Các giá trị đo của trẻ ở kênh từ -2 đến +2 (khoảng màu xanh) là bình thường.
- Các giá trị đo của trẻ ở kênh dưới -2 (khoảng màu cam) là suy dinh dưỡng vừa.
- Các giá trị đo của trẻ ở kênh dưới -3 (khoảng màu đỏ) là suy dinh dưỡng nặng.
- Các giá trị đo của trẻ ở kênh trên +2SD (khoảng màu vàng) là thừa cân.
- Nếu đường tăng trưởng của trẻ đi lên là bình thường.Nếu đường tăng trưởng của trẻ nằm ngang là đe dọa.
- Nếu đường tăng trưởng cân nặng của trẻ đi xuống là nguy hiểm.
Lưu ý:
Sự tăng cân nặng, chiều cao hoặc chiều dài quan trọng hơn con số thực tế đo được.
Trao đổi với người mẹ:
- Đường tăng trưởng nằm ngang: Cần tìm nguyên nhân có thể là: ăn chưa đủ, thiếu chất (bú mẹ không đủ, ăn ít bữa, thức ăn nghèo nàn…); ăn tốt nhưng chơi đùa quá sức, trẻ đang bị mắc một bệnh nào đó; hoặc do trước đó bị sút cân mà chưa hồi phục. Bất kỳ trẻ nào nếu đường tăng trưởng không tăng trong 3 tháng thì phải đưa đi khám ở cơ sở y tế. Nếu trẻ giảm sút cân (biểu đồ cân nặng đi xuống) là dấu hiệu nguy hiểm, cần tìm nguyên nhân để có cách xử lý đúng, kịp thời và nhanh chóng. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu nếu đường biểu diễn đi ngang hoặc đi xuống đều là nghiêm trọng.
- Đường tăng trưởng tiến triển bình thường: động viên bà mẹ cần tiếp tục duy trì những thực hành tốt về nuôi dưỡng trẻ và chăm sóc đứa trẻ tốt hơn.
Mỗi trẻ dưới 5 tuổi đều cần có biểu đồ tăng trưởng riêng, biểu đồ tăng trưởng do bà mẹ và các thành viên trong gia đình cất giữ bởi đây được coi như một công cụ tốt nhất để theo dõi tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của trẻ. BĐTT sẽ giúp cho các bà mẹ theo dõi một cách liên tục sự phát triển của con mình. Cộng tác viên cần có những lời khuyên phù hợp và kịp thời đối với người mẹ và người chăm sóc trẻ. Đồng thời động viên họ đưa con đến cân đo lần sau và tham gia các hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em ở địa phương.
Hoạt động giáo dục truyền thông
TTGDDD ở tuyến cơ sở là hoạt động cung cấp, chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức giữa cộng tác viên, nhân viên y tế và các nhóm đối tượng (chủ yếu là bà mẹ có con dưới 5 tuổi, các thành viên trong gia đình và những người gần gũi khác) nhằm thuyết phục động viên và giúp đỡ họ có cách thức hành đúng trong chăm sóc và nuôi trẻ tại nhà.
Kết quả mong đợi là:
- Bà mẹ có kiến thức đúng
- Bà mẹ có cách thực hành mới, tích cực, biểu hiện bằng:
+ Làm thử và duy trì cách thực hành mới.
Như vậy, hoạt động mức 1 là trao đổi, cung cấp các thông tin thiết yếu. Mức 2 là động viên, giúp đỡ bà mẹ áp dụng các thực hành mới tại gia đình.
2. CÁC HÌNH THỨC TRUYỀN THÔNG, GIÁO DỤC DINH DƯỠNG
Truyền thông trực tiếp: Truyền thông trực tiếp là quá trình tương tác mặt đối mặt giữa người với người bằng ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời giữa người làm truyền thông với đối tượng nhằm giúp đối tượng thay đổi hành vi sức khoẻ. Truyền thông trực tiếp đã được thừa nhận là phương pháp có hiệu quả nhất để giúp đối tượng thay đổi hành vi. Đối tượng của truyền thông trực tiếp có thể là một người hay một nhóm người.
Truyền thông gián tiếp: Truyền thông gián tiếp là quá trình chuyển tải các thông điệp từ nguồn phát đến người nhận thông qua các phương tiện truyền thông; có thể bằng chữ viết (tài liệu, sách, báo, internet…), lời nói hoặc âm thanh (băng tiếng, phát thanh), có thể bằng hình ảnh (tranh ảnh, đèn chiếu…), hoặc vừa có hình ảnh động vừa có lời giải thích, thuyết minh hình ảnh (băng hình, phim nhựa…). Là phương thức truyền thông được thực hiện qua các phương tiện thông tin đại chúng (tivi, đài phát thanh, loa truyền thanh, báo, tạp chí, bản tin…) và các tài liệu truyền thông khác (áp phích, tranh gấp, tranh lật, sách hướng dẫn…).
Những phương tiện truyền thông này tùy tính chất và kỹ thuật mà tác động đến người nhận thông điệp qua các giác quan như mắt, tai hoặc vừa tác động đến cả mắt lẫn tai (các phương tiện nghe - nhìn)…các phương tiện như báo chí, phát thanh, truyền hình của Trung ương hay của địa phương, của các ngành, đoàn thể được gọi chung là các phương tiện truyền thông đại chúng.
So sánh giữa truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp
| Đặc điểm |
Truyền thông trực tiếp |
Truyền thông gián tiếp |
| Ưu điểm |
Người
truyền thông có thể biết được kiến thức, thái độ và thực hành của đối
tượng như thế nào, nhờ vậy có thể điều chỉnh nội dung và cách truyền đạt
cho phù hợp với từng đối tượng.
|
|
| Nhược điểm |
Truyền
thông trực tiếp chỉ tiếp cận đến một nhóm đối tượng hạn chế, vì vậy khó
có đủ nhân lực làm công tác truyền thông cho quảng đại quần chúng nhân
dân.
|
Thông
tin đại chúng chỉ có khả năng cung cấp kiến thức, nếu chỉ thực hiện
riêng truyền thông gián tiếp sẽ khó làm thay đổi hành vi của đối tượng.
|
3. CÁC HÌNH THỨC TRUYỀN THÔNG TRỰC TIẾP:
3.1. Thăm hộ gia đình:
Trường hợp cần đến thăm: Những gia đình có trẻ dưới 2 tuổi có bất ổn về dinh dưỡng và sức khoẻ(suy dinh dưỡng, tiêu chảy, ốm, trẻ không lên cân hoặc tụt cân; Những bà mẹ có thai không đi khám thai hoặc đang có những vấn đề cần giúp đỡ (trong phạm vi dinh dưỡng và sức khoẻ).

CTV dinh dưỡng đến thăm gia đình có con nhỏ < 5 tuổi
Mục đích của việc đến thăm:
- Kiểm tra sức khoẻ, quan sát tìm hiểu tình huống.
- Kiểm tra việc thực hiện các lời khuyên mà bạn đưa ra trước đó(nếu có)
-
Cung cấp thêm kiến thức.
-
Trao đổi kinh nghiệm với các bà mẹ, cùng thảo luận về một vấn đề cụ thể với bà mẹ hoặc các thành viên khác trong gia đình.
-
Giúp bà mẹ thực hành một ý tưởng hay một hành động.
-
Lôi cuốn sự ủng hộ và chia sẻ của các thành viên trong gia đình nhất là người chồng trong việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ.
- Các bước trong cuộc đến thăm hộ gia đình:
- Chào hỏi, giới thiệu bản thân và mục đích của cuộc đến thăm.
- Quan sát và hỏi thăm sức khoẻ của mọi thành viên trong gia đình.
- Hỏi thăm việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, kiểm tra việc thực hiện các lời khuyên bạn đưa ra trước đó.
- Tiến hành khuyên bảo hoặc làm mẫu nếu bạn thấy cần thiết.
- Chào và cảm ơn gia đình trước khi ra về, hẹn lần sau đến thăm lại.
- Kỹ năng đến thăm hộ gia đình:
- Tôn trọng các quy tắc xã giao, phong tục của địa phương và của gia đình.
- Tạo không khí vui vẻ, thân thiện, cảm thông.
- Lắng nghe, quan sát và xác định các vấn đề khó khăn trong chăm sóc dinh dưỡng của trẻ tại gia đình.
- Trao đổi và hướng dẫn thực hành chăm sóc trẻ một cách gắn gọn, rõ ràng.
- Không nói dông dài những điều không cần thiết vì gia đình có thể bận nhiều việc khác.
- Nên khuyến khích, động viên, hạn chế chê bai.
- Khi đến thăm hộ gia đình hãy mang theo tài liệu truyền thông và sổ tay để ghi lại các thông tin cần thiết.
3.2. Thảo luận nhóm: Là một buổi thảo luận trong đó nhiều người cùng trao đổi, chia sẻ, bàn bạc về một chủ đề đang được quan tâm. Đây là phương pháp thông dụng và có hiệu quả trong truyền thông thay đổi hành vi dinh dưỡng. Nhóm thảo luận tối đa không quá 20 người. Trung bình nhóm thảo luận có từ 7-10 người.

Thảo luận nhóm các bà mẹ
Mục đích của thảo luận nhóm:
- Hỗ trợ và động viên các thành viên trong nhóm thực hiện và duy trì các họat động có liên quan đến nuôi dưỡng và chăm sóc bà mẹ, trẻ em.
- Trao
đổi kinh nghiệm và kỹ năng để mọi người học tập lẫn nhau. Ví dụ: trong
nhóm các phụ nữ đang mang thai, những người đã từng sinh con sẽ chia sẻ
kinh nghiệm về việc đi khám thai, ăn uống đủ dinh dưỡng và việc chuẩn bị
đón đứa trẻ chào đời cho những phụ nữ mang thai lần đầu.
- Tạo khả năng để các thành viên đóng góp sức lực của mình giúp đỡ những thành viên trong nhóm gặp khó khăn.
-
Ví dụ: Các thành viên trong nhóm chia sẻ kinh nghiệm, giúp giống cây để trồng các loại rau giàu vitaminA và chất sắt để đưa vào bữa ăn cho trẻ....
Chuẩn bị cho một cuộc thảo luận nhóm:
- Chọn chủ đề mà đối tượng quan tâm và cần giải quyết, với mỗi nhóm đối tượng sẽ có các vấn đề quan tâm khác nhau.
- Ví
dụ: phụ nữ mang thai những tháng đầu sẽ mong muốn được biết các thông
tin về khám thai, uống viên sắt và chế độ ăn uống như thế nào để mẹ
khoẻ, thai khoẻ. Những phụ nữ có con dưới 1 tuổi quan tâm đến chế độ
nuôi dưỡng trẻ, làm thế nào để trẻ ăn tốt, lên cân đều và không bị suy
dinh dưỡng.
- Thu thập thông tin về chủ đề sẽ thảo luận.

Truyền thông trực tiếp đến nhóm bà mẹ
- Chuẩn bị thời gian và điạ điểm yên tĩnh, thuận tiện để mọi người có thể đến dự đông đủ.
- Chuẩn bị phương tiện, nội dung và một số câu hỏi trong khi thảo luận.
- Thông báo cho lãnh đạo địa phương và đối tượng biết.
Các bước tiến hành thảo luận nhóm:
- Bước 1: Giới thiệu đối tượng tham dự và truyền thông viên. Nêu chủ đề sẽ thảo luận.
- Bước
2: trao đổi để tìm hiểu kinh nghiệm của mọi người về vấn đề này: Họ
biết gì? Họ đã làm gì? kết quả ra sao? Họ cảm thấy thế nào về chủ đề
này? Hãy khen ngợi những ý kiến hay. Không nên chê bai những điều mà mọi
người làm chưa đúng, chỉ nên nhắc nhở, rút kinh nghiệm nhẹ nhàng. Tốt
nhất bạn hãy giúp đỡ để đối tượng tự nhận ra những điều tốt.
- Bước 3: Bổ sung thêm thông tin cho chính xác và đầy đủ, cung cấp thêm kỹ năng mới nếu cần thiết.
- Bước 4: Tìm hiểu xem mọi người có khó khăn gì khi thực hiện hành vi mới, nếu có hãy cùng mọi người thảo luận để giải quyết.
- Bước 5: Cuối cùng, hãy tóm tắt các điểm chính và thống nhất cam kết của mọi người thực hiện hành vi mới.
Các kỹ năng để tổ chức tốt thảo luận nhóm:
- Chuẩn bị tốt chủ đề, các câu hỏi, các tình huống liên quan.
- Bầu nhóm trưởng là người tháo vát, được tín nhiệm, nói năng lưu loát.
- Giải thích cặn kẽ, rõ ràng, đảm bảo đối tượng hiểu được yêu cầu của buổi thảo luận.
- Khuyến
khích đối tượng tham gia tích cực: cố gắng lôi kéo những người nhút
nhát, ít nói vào cuộc bằng cách mời họ phát biểu. Hạn chế những người
nói quá nhiều và nói thường xuyên bằng cách cảm ơn sự đóng góp của họ
rồi mời người khác phát biểu.
- Điều
chỉnh kịp thời không để buổi thảo luận đi chệch hướng: Hãy nhắc lại câu
hỏi thảo luận để đối tượng tập trung hơn vào chủ đề chính, nếu cần thì
viết to chủ đề thảo luận lên bảng để mọi người có thể nhìn thấy dễ dàng.
- Khéo
léo giải quyết nếu xảy ra mâu thuẫn khi tranh luận hoặc đối tượng đưa
ra các thông tin sai: Nhẹ nhàng giải thích đưa ra các thông tin đúng,
dung hoà các ý kiến và đi đến ý kiến thống nhất.
- Khi gặp phải câu hỏi khó: huy động kinh nghiệm của các thành viên trong nhóm, hoặc hẹn sẽ tìm hiểu vấn đề kỹ hơn rồi trả lời đối tượng vào lần sau.
3.3. Mở các lớp học cách nuôi con khoẻ:
- Mục
đích là cung cấp những kiến thức thiết yếu về cách chăm sóc và dinh
dưỡng cho phụ nữ khi mang thai, làm mẹ-nuôi con khoẻ (không bị suy dinh
dưỡng) cho các đối tượng trước khi lấy chồng, phụ nữ mang thai, bà mẹ có
con nhỏ dưới 2 tuổi.
- Khác
với các buổi nói chuyện, lớp học có người giảng, có chương trình học,
có tài liệu cho học viên, có một số dụng cụ phục vụ cho việc giảng bài.
Học viên phải có vở, bút ghi chép đầy đủ.
- Giảng
viên của lớp học thường là nhân viên y tế, các cộng tác viên phụ nữ
hoặc cộng tác viên dinh dưỡng đã tham gia các lớp tập huấn về dinh dưỡng
trong chăm sóc sức khoẻ bà mẹ- trẻ em trước đó và có kỹ năng trong công
tác truyền thông.
- Học
viên của các lớp học này có thể là thiếu nữ sắp đến tuổi lấy chồng, các
bà mẹ trẻ hoặc các đối tượng khác có liên quan đến việc nuôi dưỡng,
chăm sóc trẻ trong gia đình như bà, chồng, chị, em...
- Lớp cần được tổ chức thường kỳ hàng tháng. Trạm y tế có thể phối hợp với hội phụ nữ tổ chức lớp và cấp chứng chỉ. Lớp thường được tổ chức trong 01 ngày và số học viên không nên quá 30 người. Ngoài phần lý thuyết, lớp nên tổ chức cả phần hướng dẫn thực hành vì"trăm nghe không bằng một thấy". Trong phần thực hành sẽ hướng dẫn học viên biết cách lựa chọn thực phẩm sẵn có ở địa phương để đưa vào bữa ăn cho trẻ, thực hành “Tô màu bát bột, bát cháo".
3.4. Sinh hoạt câu lạc bộ phòng chống suy dinh dưỡng:
Mục đích: Truyền bá kiến thức thiết yếu về nuôi con khoẻ và trao đổi kinh nghiệm cách thực hành nuôi con khoẻ
Đối tượng tham gia sinh hoạt câu lạc bộ:
Các bà mẹ có con dưới 2 tuổi
Các người bà thường xuyên chăm sóc cháu, các phụ nữ đang mang thai, phụ trách câu lạc bộ là nhân viên y tế hoặc cộng tác viên phụ nữ thôn.

Nội dung sinh hoạt: Các cuộc trò chuyện, trao đổi trực tiếp đa dạng và đơn giản, thường xuyên đổi mới kết hợp với các trò chơi bổ ích hay các chương trình ca nhạc địa phương với các nội dung nuôi con khoẻ; Các trò chơi nhận thức:"Hái hoa dân chủ", "Truyền tin", Giải đáp kiến thức; Trình diễn thực hành; Xem phim Video có nội dung liên quan; Sáng tác các điệu hát dân ca, chèo, ngâm thơ, tấu, kịch... có nội dung liên quan để trình diễn ...
Kỹ năng tổ chức sinh hoạt câu lạc bộ:
- Chuẩn bị tốt các nội dung cho buổi sinh hoạt.
- Người điều hành buổi sinh hoạt phải có hiểu biết về nuôi dưỡng trẻ và có uy tín.
-
Có chương trình cụ thể để các thành viên tham gia sinh hoạt biết được.
-
Tổ chức buổi sinh hoạt câu lạc bộ sao cho có không khí vui vẻ, nhẹ nhàng. Nên có các tiết mục trò chơi và văn nghệ để gây ấn tượng.
3.5. Tổ chức hội thi "Kiến thức bố mẹ, sức khoẻ con": Là hình thức phát triển cao của hoạt động Câu lạc bộ phòng chống suy dinh dưỡng. Hội thi sẽ được tổ chức mỗi năm một lần vào một dịp nhất định. Đây là cuộc thi có giải thưởng do UBND địa phương chỉ đạo, Y tế phối hợp với phụ nữ xã tổ chức.
Đối tượng: Các cặp bố, mẹ có con dưới 2 tuổi không bị suy dinh dưỡng được câu lạc bộ các thôn tuyển lựa và bầu chọn.
Cách thức thi:
Cuộc thi có 2 vòng:
- Vòng
1: Các cặp bố-mẹ dự thi kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi trắc
nghiệm in sẵn trên giấy. Ban giám khảo cuộc thi sẽ chấm cho điểm theo
bảng điểm qui định và chọn ra 3 đến 5 cặp bố-mẹ đạt điểm cao nhất vào
thi vòng 2.
- Vòng
2: Mời 3 đến 5 cặp bố-mẹ có điểm kiến thức cao nhất bắt thăm thi thực
hành chế biến bữa ăn của trẻ (Chế biến một bát bột thịt hay một bát cháo
trứng hoặc một bát bột lạc...).
- Sau khi các cặp bố-mẹ dự thi 2 vòng, ban giám khảo chấm điểm để chọn ra các cặp đạt giải nhất, giải nhì, giải ba và giải khuyến khích.
3.6. Nói chuyện dinh dưỡng:
- Muốn cuộc nói chuyện đạt kết quả tốt, truyền thông viên cần chuẩn.
- Tìm hiểu kỹ đối tượng (người nghe).
- Tìm hiểu các nhu cầu và mối quan tâm của họ.
- Lựa chọn đề tài cho thích hợp, đơn giản và khu trú.
- Tập hợp thông tin chính xác và hiện đại.
- Liệt kê các nội dung chính, các thông điệp chính cần phải truyền đạt.
- Sử dụng các phương tiện trực quan như các áp phích, tranh ảnh, mô hình…để minh hoạ.
- Nếu có băng hình để minh họa nội dung thì càng tốt.
- Bố trí địa điểm và sắp xếp chỗ ngồi cho người nghe hợp lí, thoải mái không bị phân tán hoặc bị tác động do ngoại cảnh, thời tiết.
- Tổ chức cuộc nói chuyện: Sau đây là các gợi ý đối với 3 giai đoạn chính của việc tổ chức một cuộc nói chuyện nhằm khuyến khích mọi người tham gia hành động.
- Thu
hút sự chú ý ngay từ đầu: Cách mở đầu của bài nói chuyện là vô cùng
quan trọng và nó cần phải nhanh chóng thu hút sự chú ý của người nghe.
Chỉ cần mở đầu bằng vài câu là đủ, không được dài dòng.
- Đưa
ra và bảo vệ các quan điểm chính của bạn: Trong một cuộc nói chuyện tốt
hơn hết là chỉ nên đưa ra một số điểm chính mà thôi. Các nội dung đó
nên được hỗ trợ thông qua các cách sau đây.
- Tóm tắt và kết thúc cuộc nói chuyện: kêu gọi hành động. Để một cuộc nói chuyện thành công thì phần kết thúc bài nói chuyện phải rõ ràng. Có thể dùng 3 bước sau đây để kết thúc cuộc nói chuyện.
4. CÁC PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG (TRUYỀN THÔNG GIÁN TIẾP):
4.1. Báo:
- Mục
đích của báo là truyền bá các thông điệp dưới các mục khác nhau: tin
tức, thời sự, xã luận, phỏng vấn, trả lời bạn đọc, cần biết vv…
- Viết tin, bài cho báo: Tuỳ theo tình hình ở địa phương có những vấn đề ưu tiên trong những thời gian nhất định, trong các chiến dịch…các cán bộ truyền thông ở cơ sở có thể viết tin bài cho các báo ở Trung ương hay địa phương. Tất nhiên bài báo có thể không được đăng. Nhưng nếu sự kiện ấy bất thường và nội dung viết tốt thì rất có cơ hội được đăng.
4.2. Đài phát thanh: Phát thanh có ưu điểm nổi bật là đưa được các thông điệp đến với người nghe một cách rộng rãi, nhanh nhạy, kịp thời và tới được những bản làng xa xôi hẻo lánh mà kinh phí đầu tư lại rất rẻ, thuận tiện cho việc sử dụng ngay cả khi đồng bào đi làm trên nương rẫy.

- Mục
đích: Đài phát thanh có nhiều chương trình phát sóng cho nhiều mục đích
khác nhau, trong đó có những chương trình về sức khoẻ như mục; "Sức
khoẻ cộng đồng", "Lời khuyên thầy thuốc", “Trả lời bạn nghe đài” vv…
- Sử
dụng vào truyền thông thay đổi hành vi: Các thông tin y tế có thể được
phát trên đài phát thanh theo nhiều dạng, nhiều tiết mục khác nhau như
thông tin một phút (quảng cáo), tin tức, thời sự, buổi nói chuyện, phỏng
vấn, toạ đàm, câu chuyện truyền thanh… rất phổ biến, đề cập đến những
vấn đề của một gia đình hoặc một nhóm người.
- Tổ
chức những cuộc họp để nghe đài: nếu truyền thông viên biết trước được
các chương trình y tế phát vào lúc nào và về vấn đề gì thì thông báo cho
mọi người biết để đón nghe hoặc tổ chức thảo luận sau khi chương trình
phát thanh kết thúc. Bằng cách tổ chức các buổi tụ họp để nghe đài, ta
có thể biến điều bất lợi này thành ưu điểm.
- Dùng
băng ghi âm đã ghi lại các nội dung, các thông điệp do các dự án sức
khoẻ cung cấp để biên soạn lại cho phù hợp với đặc điểm của địa phương
rồi phát thanh cho nhiều người cùng nghe. Có thể dịch các băng này ra
tiếng dân tộc để phát thanh cho đồng báo dân tộc nghe thì sẽ có hiệu quả
rất tốt.
- Đưa
chương trình dinh dưỡng lên đài phát thanh : Có thể liên hệ phối hợp
với đài phát thanh của địa phương để giới thiệu, thông báo các hoạt động
của Dự án dinh dưỡng đang và sẽ thực hiện ở địa phương để cộng đồng
cũng biết và chủ động tham gia.
- Thông
báo dịch vụ công cộng: Đài phát thanh địa phương có thể sẵn sàng phát
những thông báo về dịch vụ về dinh dưỡng ngắn gọn. Ví dụ: loan tin về
“tuần lễ dinh dưỡng và sức khoẻ”, “Những ngày vi chất dinh dưỡng”,
“Tháng chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm”, “Ngày toàn dân không
hút thuốc lá” vv… Trong những thông điệp này ta cung cấp những nội dung
chủ chốt đồng thời kêu gọi, nhắc nhở mọi người cùng tham gia. Những
thông điệp này có thể được nhắc lại nhiều lần trong ngày và liên tục
trong một số ngày nhất định.

- Vô
tuyến truyền hình là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho việc truyền
thông thay đổi hành vi sức khoẻ trong lĩnh vực sức khoẻ cộng đồng ở
thành thị cũng như ở nông thôn, cả ở vùng xa xôi hẻo lánh dần dần được
điện khí hoá và phủ sóng truyền hình.
- Phát các thông tin quảng cáo 1 phút về các chương trình dinh dưỡng. Các thông tin quảng cáo này thường được phát nhắc đi nhắc lại trong một thời gian với các thông điệp ngắn gọn, hình ảnh lại hấp dẫn tạo được sự chú ý và lôi kéo người xem.
5. THỰC HÀNH TRUYỀN THÔNG: (2 bài thực hành, có thể hướng dẫn riêng hay xem kẽ)
5.1. Đóng vai một buổi nói chuyện nhóm
Giảng viên đưa tình huống mẫu:
Cộng tác viên (CTV) trao đổi với một nhóm 07 bà mẹ có con < 2 tuổi cùng xóm về đảm bảo số lượng và chất lượng bữa ăn bổ sung cho trẻ. Định hướng thái độ trong trò chơi:
- Có bà mẹ quá rụt rè, ngượng ngùng (02).
- Có bà mẹ có kiến thức và “mau miệng” (01).
- Có nhân tố tích cực là bà mẹ có con luôn khỏe mạnh (01).
- Có bà mẹ có con có vấn đề (SDD). (01). Các bà mẹ khác không có gì đặc biệt.
Triển khai:
- Phân vai cho học viên (10 phút).
- Học viên định vị vai và chuẩn bị (15 phút).
- Diễn và yêu cầu học viên còn lại nghe để bình luận (20 phút).
- Bình luận của lớp (15 phút).
CTV đến thăm nhà 1 bà mẹ có trẻ 8 tháng tuổi không được khỏe nhưng liên tục không đi cân chấm biểu đồ. CTV gặp được cả bà mẹ, cháu bé, mẹ chồng (Bà) và chị hàng xóm cùng lứa.
Định hướng các thái độ chính: CTV muốn tìm hiểu căn nguyên để thuyết phục trẻ đi cân, bà mẹ chồng bảo thủ không muốn cân cháu, chị hàng xóm tích cực, bà mẹ phân vân.
Cách tổ chức:
- Phân vai: 5 phút.
- Định vị vai: 5 phút.
- Diễn: 20 phút.
- Quan sát viên, Giảng viên phân tích & bình luận: 20 phút.